PodcastsTạp chí Việt Nam

Tạp chí Việt Nam

Tạp chí Việt Nam
Latest episode

72 episodes

  • Việt Nam có bị ảnh hưởng từ hợp tác dầu khí Trung Quốc - Philippines ở Biển Đông?

    04/05/2026
    Khủng hoảng dầu lửa Trung Đông lại làm giảm bớt căng thẳng tranh chấp chủ quyền giữa Manila và Bắc Kinh. Ngày 24/03/2026, tổng thống Marcos Jr. tuyên bố “sẵn sàng nối lại đàm phán dự án dầu khí với Trung Quốc ở Biển Đông”, sau đó được bộ Ngoại Giao Philippines nhấn mạnh là “phải tuân theo Hiến Pháp Philippines”. Một tháng sau, đại sứ Philippines tại Trung Quốc giải thích hai bên “vừa cố gắng quản lý những khác biệt vừa tìm kiếm sự hội tụ lợi ích”.
    Lần đầu đầu tiên từ ba năm qua, dấu hiệu “tan băng” bắt đầu xuất hiện cho dù nguyên thủ Philippines và Trung Quốc cam kết nối lại đàm phán phát triển dầu khí chung ở Biển Đông nhân chuyến công du Bắc Kinh đầu năm 2023 của tổng thống Marcos Jr. Tháng 03/2026, Philippines ban bố “tình trạng khẩn cấp năng lượng quốc gia” do khủng hoảng Trung Đông. Ngay sau đó, Bắc Kinh hứa hỗ trợ duy trì nguồn cung nhiên liệu.
    Khu vực khai thác chung Philippines-Trung Quốc nằm ở đâu ? Mô hình này sẽ tác động như thế nào đối với Việt Nam ? Khủng hoảng Trung Đông đang định hình lại nguồn cung nhiên liệu của nhiều nước Đông Nam Á. Liệu Việt Nam, Philippines và Trung Quốc có thể hướng đến việc tách riêng tranh chấp chủ quyền để đồng khai thác dầu khí ở Biển Đông ?
    RFI Tiếng Việt đặt câu hỏi với giảng viên-nhà nghiên cứu Laurent Gédéon, Đại học Công giáo Lyon và Viện Đông Á - IAO, Trường Sư phạm Lyon tại Pháp.
    RFI : Gần đây, Manila đề cập đến việc nối lại đàm phán với Bắc Kinh về dự án thăm dò dầu khí chung ở Biển Đông. Xin ông giải thích bối cảnh đằng sau quyết định này của Philippines ?
    Laurent Gédéon : Bối cảnh của quyết định này liên quan đến việc Philippines bị phụ thuộc nặng nề vào nguồn tài nguyên hydrocarbon, với các nhà cung cấp dầu chính, theo thứ tự quan trọng, là Ả Rập Xê Út, Irak, Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất và Kuwait. Có thể thấy Philippines nhập khẩu gần như toàn bộ dầu thô từ Trung Đông, khiến nước này rất dễ bị ảnh hưởng bởi biến động giá dầu và gián đoạn nguồn cung.
    Để đối phó với tình trạng này, ngày 24/03, tổng thống Ferdinand Marcos Jr. đã tuyên bố “tình trạng khẩn cấp năng lượng quốc gia”, nhằm ứng phó với “rủi ro từ gián đoạn cung ứng và tác động tiêu cực của giá nhiên liệu tăng cao”, hậu quả của xung đột Trung Đông. Đây là một phần trong nỗ lực của chính phủ nhằm giảm thiểu tác động của giá nhiên liệu tăng vọt đối với nền kinh tế quốc gia.
    Đọc thêmPhilippines và Trung Quốc nối lại đàm phán về Biển Đông và hợp tác năng lượng
    Về vấn đề này, trong cuộc họp báo ngày 25/03, tổng thống Marcos Jr. cho biết Philippines sẽ tìm nguồn cung năng lượng thay thế từ các đối tác ít bị ảnh hưởng bởi bất ổn Trung Đông. Ông cho biết Manila đang đàm phán với Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc. Giống như Việt Nam, Philippines cũng đề nghị Tokyo hỗ trợ tiếp cận một phần dự trữ dầu của Nhật Bản. Tokyo phản hồi tích cực, nhưng nhấn mạnh việc hỗ trợ sẽ phụ thuộc vào nhu cầu cụ thể của họ. Cũng chính trong bối cảnh phức tạp này, Philippines thông báo nối lại đàm phán với Trung Quốc về dự án phát triển dầu khí chung.
    RFI : Thông báo của Philippines liên quan đến khu vực nào tại Biển Đông ?
    Laurent Gédéon : Khu vực được thảo luận là bãi Cỏ Rong (Reed Bank, Philippines gọi là bãi Recto), cách đảo Palawan khoảng 80 hải lý về phía tây, thuộc vùng đặc quyền kinh tế của Philippines.
    Dự án phát triển tài nguyên hydrocarbon tại bãi Cỏ Rong rất quan trọng đối với nguồn cung năng lượng của Philippines vì theo ước tính, khu vực này chứa khoảng 165 triệu thùng dầu và 3.486 nghìn tỷ feet khối khí đốt. Nguồn tài nguyên này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh mỏ khí Malampaya - hiện cung cấp gần 30% nhiên liệu cho Philippines - đang cạn dần. Vì vậy, việc phát triển bãi Cỏ Rong được xem là giải pháp thay thế cấp thiết. Tương lai an ninh năng lượng của Philippines phụ thuộc nhiều vào kết quả các cuộc đàm phán, trong khi nước này vẫn đối mặt với rủi ro đáng kể.
    RFI : Đây không phải là lần đầu tiên Trung Quốc và Philippines nêu khả năng khai thác chung dầu khí ở Biển Đông. Trước đây, vấn đề này đã được đề cập như thế nào ?
    Laurent Gédéon : Đây là một tiến trình rất dài. Năm 2003, Trung Quốc và Philippines đã bắt đầu đàm phán về việc cùng khai thác dầu ngoài khơi. Năm 2005, thỏa thuận ba bên về « Khảo sát Địa chấn biển chung » (Joint Marine Seismic Undertaking, JSMU) được ký giữa Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Trung Quốc (CNOOC), Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PETROVIETNAM) và Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Philippines (PNOC), tại khu vực “theo thỏa thuận” rộng 142.886 km² ở Biển Đông, bao gồm một phần quần đảo Trường Sa. Thỏa thuận này kéo dài ba năm và hết hạn vào năm 2008.
    Năm 2012, chính quyền Aquino khôi phục ý tưởng hợp tác với Trung Quốc, nhằm thu hút CNOOC đầu tư thăm dò dầu khí. Tuy nhiên, nỗ lực này thất bại do lo ngại liên quan đến đòi hỏi chủ quyền của Trung Quốc. Năm 2014, Manila áp đặt lệnh cấm tạm thời đối với hoạt động thăm dò tại các vùng biển tranh chấp vì căng thẳng với Trung Quốc gia tăng và sau khi Philippines đưa vụ việc ra Tòa Trọng tài Thường trực (PCA) ở La Haye. Tình hình bế tắc trong hai năm, sau khi Bắc Kinh bác bỏ phán quyết ngày 12/07/2016 của Tòa phủ nhận yêu sách “đường chín đoạn” bao trùm phần lớn Biển Đông.
    Đọc thêmBiển Đông : Động cơ chính trị của Trung Quốc đằng sau tuyên bố bảo vệ môi trường ?
    Đến năm 2018, hai bên đạt được một số tiến triển khi ký bản ghi nhớ, thiết lập khuôn khổ đàm phán hợp tác phát triển dầu khí. Thỏa thuận quy định trong vòng 12 tháng kể từ tháng 11/2018, hai bên phải thống nhất được khu vực và phương thức thăm dò chung ở Biển Đông. Tuy nhiên, vì không có thỏa thuận cụ thể nào được ký kết, tổng thống Rodrigo Duterte đình chỉ đàm phán vào tháng 06/2022.
    Ngày 10/01/2023, Tòa án Tối cao Philippines tuyên bố vô hiệu thỏa thuận JSMU ký năm 2005 với Trung Quốc và Việt Nam vì vi hiến, do lo ngại làm suy yếu chủ quyền quốc gia. Dù vậy, các cuộc tiếp xúc không chính thức giữa Trung Quốc và Philippines vẫn tiếp diễn, trước khi hai bên chính thức nối lại đối thoại vào tháng 01/2025. Tiến trình được thúc đẩy trong năm 2026 qua các cuộc tham vấn song phương, bao gồm cuộc tham vấn lần thứ 24 giữa bộ Ngoại Giao hai nước tại Tuyền Châu, Trung Quốc và cuộc họp lần thứ 11 của cơ chế tham vấn song phương về Biển Đông. Các cuộc đàm phán này nhằm xác định những bước đi ban đầu hướng tới hợp tác dầu khí. Tuy nhiên, cần theo dõi phần tiếp theo vì ngày 29/03, Manila khẳng định mọi quyết định hợp tác sẽ phải tuân thủ Hiến Pháp Philippines và bảo đảm chủ quyền quốc gia.
    RFI : Một số vùng mà Manila tuyên bố là vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) chồng lấn với vùng biển mà Việt Nam khẳng định chủ quyền. Một dự án thăm dò dầu khí chung giữa Trung Quốc và Philippines có thể tác động như thế nào đến tuyên bố chủ quyền của Việt Nam ?
    Laurent Gédéon : Bãi Cỏ Rong, nơi Trung Quốc và Philippines vừa đàm phán triển khai thăm dò dầu khí chung, nằm ngoài khu vực chồng lấn chủ quyền của Philippines và Việt Nam tại Trường Sa, do đó dự án này không ảnh hưởng đến tuyên bố chủ quyền của Việt Nam.
    Đọc thêmBiển Đông: Việt Nam dè dặt với các sáng kiến của Philippines
    Tuy nhiên, tuyên bố chủ quyền vẫn tồn tại, liên quan đến phía nam Vùng Đặc quyền Kinh tế (EEZ) của Philippines. Vùng biển tranh chấp này sẽ là chủ đề đàm phán tương lai giữa Việt Nam và Philippines. Về tài nguyên dầu khí của Việt Nam, chúng tập trung quanh bãi Tư Chính, nằm ở rìa phía đông nam và nằm ngoài Vùng Đặc quyền Kinh tế của Philippines. Khu vực này, chiếm khoảng 10% nhu cầu năng lượng Việt Nam, lại là tâm điểm căng thẳng, không phải giữa Việt Nam và Philippines, mà là giữa Việt Nam và Trung Quốc. Bắc Kinh thường tuần tra tại đây nhằm đe dọa Việt Nam và làm gián đoạn hoạt động của các công ty dầu khí khai thác trong khu vực.
    RFI : Trong trường hợp này hoặc trong trường hợp các dự án phát triển chung giữa Trung Quốc và Philippines, Việt Nam có thể làm gì ? Liệu lập trường của Hà Nội có được Bắc Kinh và Manila lắng nghe ?
    Laurent Gédéon : Khi Hiệp định Hợp tác Khảo sát Địa chấn Biển chung (JSMU) được ký năm 2005, mà tôi đề cập ở trên, cả Philippines và Việt Nam đều coi đó là cơ hội để cải thiện quan hệ chính trị, kinh tế và quân sự với Trung Quốc, đồng thời thúc đẩy phát triển chung các nguồn tài nguyên có thể sẽ rất khó khai thác vì những căng thẳng. Tình hình sau đó trở nên phức tạp hơn do Trung Quốc chính thức hóa các tuyên bố chủ quyền tối đa, thể hiện qua “đường chín đoạn”. Tuy nhiên, các bên vẫn không từ bỏ nỗ lực tìm kiếm một thỏa hiệp, dù chỉ là tạm thời. Đặc biệt, Trung Quốc đã tích cực đề xuất một số dự án phát triển chung ở Biển Đông với Philippines và Việt Nam kể từ năm 2017. Động cơ của Bắc Kinh có thể được xem xét cả về kinh tế và địa chiến lược (…)
    Về lập trường của Việt Nam, kịch bản khả thi nhất sẽ là một hoặc nhiều thỏa thuận chia sẻ tài nguyên, theo đó Trung Quốc, Việt Nam và Philippines sẽ cùng nhau khai thác dầu khí. Tuy nhiên, sự hợp tác như vậy sẽ đòi hỏi cả tính sáng tạo về mặt pháp lý và thiện chí thực sự từ phía các nước liên quan để đạt được một thỏa hiệp.
    Đọc thêmBiển Đông : Việt Nam có chịu "nhượng" chủ quyền để cùng Philippines chống Trung Quốc ?
    Theo tôi, Hà Nội, cũng như Bắc Kinh và Manila, trong trường hợp này nên chấp nhận một số nhượng bộ để dung hòa các tuyên bố chủ quyền của mỗi bên đối với các khu vực tranh chấp với việc chia sẻ công bằng các nguồn năng lượng có trong những khu vực đó.
    Trong trường hợp như vậy, các liên doanh được thành lập trong khuôn khổ quản lý chung không nên bị coi là một bước thụt lùi hoặc là một thất bại, mà là một cơ chế thực dụng được thiết lập trong khi chờ đợi một giải pháp dứt khoát, mà không phán xét về việc phân định ranh giới sau này các vùng biển liên quan và không đặt ra nghi vấn về các tuyên bố chủ quyền lãnh thổ của ba bên. Có khả năng đây là một hướng để suy ngẫm hoặc một cơ hội chính trị và kinh tế đáng để đào sâu, đặc biệt là đối với Việt Nam.
    RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn giảng viên-nhà nghiên cứu Laurent Gédéon, Đại học Công giáo Lyon và Trường Sư phạm Lyon.
  • Mời giáo hoàng Lêô XIV thăm Việt Nam: Một tín hiệu đáng chú ý trong quan hệ Hà Nội - Vatican

    27/04/2026
    Ngày 11/04/2026, nhân chuyến thăm chính thức Tòa Thánh, chủ tịch Quốc Hội Việt Nam Trần Thanh Mẫn đã chuyển bức thư của tổng bí thư kiêm chủ tịch nước Tô Lâm gởi giáo hoàng Lêô XIV mời ngài đến thăm chính thức Việt Nam “trong thời gian tới”.
    Theo báo chí Việt Nam, giáo hoàng đã cám ơn lời mời của ông Tô Lâm và bày tỏ mong muốn đến thăm Việt Nam. Phát biểu với chủ tịch Quốc Hội Việt Nam Trần Thanh Mẫn, giáo hoàng Lêô XIV còn cho biết « hai năm trước ngay ở khu vườn này có đặt bức tượng Đức Mẹ La Vang mặc áo dài, mỗi khi nhìn thấy là luôn nhớ tới Việt Nam. »
    Giáo hoàng sẽ thăm Việt Nam năm 2027?
    Hiện thời điểm của chuyến tông du chưa được xác định, nhưng theo hãng tin Asianews, quốc vụ khanh Tòa Thánh, hồng y Pietro Parolin dự kiến ​​sẽ sớm đến thăm Việt Nam để thiết lập quan hệ ngoại giao đầy đủ giữa Hà Nội với Tòa Thánh. Chuyến thăm của giáo hoàng Lêô XIV như vậy có thể sẽ diễn ra vào năm 2027, khi ngài dự kiến sẽ công du châu Á vào tháng 8 để dự Ngày Giới trẻ Thế giới tại Seoul. 
    Thông tin về lời mời giáo hoàng Lêô XIV thăm Việt Nam đã nhanh chóng lan truyền trong cộng đồng Công Giáo, từ rất nhiều năm qua vẫn mong chờ một vị chủ chăn của Giáo hội Công Giáo Hoàn vũ đặt chân đến Việt Nam, nhất là sau khi mọi người đã rất thất vọng không được đón tiếp giáo hoàng Phanxicô trước khi ngài qua đời vào tháng 4 năm ngoái. 
    Trước đây, cố giáo hoàng Gioan Phaolô II đã từng bày tỏ mong muốn đến thăm Hà Nội, nhưng vào thời ấy, còn quá sớm để thực hiện chuyến thăm này. Sau đó, Hà Nội đã có lời mời thăm chính thức Việt Nam gởi tới giáo hoàng Phanxicô vào tháng 12/2023, vài tháng sau khi hai bên ký kết thỏa thuận mở đường cho sự hiện diện của một đại diện thường trực của Tòa Thánh tại Việt Nam. Bản thân giáo hoàng Phanxicô vào tháng 09/2023 cũng đã từng nói rõ về khả năng đến thăm Hà Nội, khi ngài trở về từ Mông Cổ.
    Mọi việc tưởng là sẽ diễn ra suôn sẻ: Vào tháng 4/2024, đã có chuyến thăm lịch sử của ngoại trưởng Tòa Thánh tổng giám mục Phaolô Gallagher tới Việt Nam. Cũng trong năm 2024, quốc vụ khanh Tòa Thánh, hồng y Pietro Parolin, dự kiến ​​sẽ đến thăm Việt Nam nhằm chính thức chuyển đổi sang quan hệ ngoại giao đầy đủ giữa Hà Nội và Tòa Thánh, rào cản chính thức cuối cùng vẫn còn cản trở một chuyến thăm của giáo hoàng.
    Nhưng do bất ổn nội bộ lãnh đạo ở Hà Nội, chuyến thăm của giáo hoàng Phanxicô đã không thể diễn ra. Tuy nhiên, một phái đoàn của chính phủ Việt Nam sau đó đã tham dự cả lễ tang của giáo hoàng Phanxicô và lễ đăng quang của giáo hoàng Lêô XIV. 
    Với lời mời chính thức của ông Tô Lâm, trong bối cảnh mà nội bộ ban lãnh đạo Việt Nam nay đã ổn định, viễn cảnh một chuyến thăm của giáo hoàng đến Việt Nam đang đến gần hơn bao giờ hết, không còn là câu hỏi “liệu ​​có hay không”, mà ngày càng là câu hỏi “khi nào” và “như thế nào”. 
    Trả lời RFI Việt ngữ qua điện thoại từ Sài Gòn, linh mục Phêrô Vũ Minh Hưng, cha chánh xứ Giáo xứ Vườn Xoài, thuộc tổng giáo phận Sài Gòn, cho biết: 
    “Tin này đã được thông báo rộng rãi trên các cái trang web của giáo phận rồi. Đó là niềm mong đợi của giáo dân và tất cả thành phần của Giáo hội Công Giáo Việt Nam. Đây là điều rất đặc biệt, vì giáo hoàng Gioan Phaolô đệ nhị đã ưu ái Việt Nam và bây giờ thì đức Lêô cũng quan tâm đến vấn đề đó. Ngài chứng tỏ rất yêu mến Giáo hội Việt Nam và giáo dân Việt Nam cũng rất yêu mến ngài, cho nên họ cũng rất mong ước sự hiện diện của đức thánh cha sẽ đem lại đức tin mạnh mẽ cho người Công Giáo và rất mong đợi ngày đó. Đức thánh cha đến thăm Việt Nam thì người Công Giáo Việt Nam chắc chắn sẽ kéo nhau đến gặp đức thánh cha.
    Nếu đức giáo hoàng về đây thì có thể trên 100 ngàn người Công Giáo khắp nơi sẽ đến chào đức thánh cha. Giáo hội có thể cũng đã chuẩn bị từ là nhiều năm rồi. Nếu đức thánh cha đồng ý với lời mời của chủ tịch nước thì có lẽ Giáo hội Việt Nam, Hội đồng Giám mục Việt Nam sẽ định hướng ra một cách đón tiếp đặc biệt. Sự hiện diện của đức thánh cha cần một nơi rộng rãi, chứa được số lớn. Còn về an ninh thì chắc Việt Nam cũng không đến nỗi nào đâu.
    Trước đây chính quyền cũng nghi ngại, nghi kỵ tôn giáo lắm, cho nên chưa hiểu được đường lối ngoại giao cần thiết của Việt Nam đối với Tòa Thánh thì sẽ nâng lên một tầm mới. Nhưng bây giờ có lẽ họ có một sự hiểu biết nhiều hơn về đức thánh cha và Vatican.”
    UCANEWS: "Một tín hiệu đáng chú ý"
    Theo nhận định của hãng tin Công giáo UCANEWS ngày 13/04/2026, “đối với nhiều người Công Giáo Việt Nam, lời mời này không chỉ là một cử chỉ ngoại giao, mà còn là một tín hiệu đáng chú ý sau nhiều năm phát triển quan hệ chậm rãi, từng bước. Lời mời này là một trong số những hành động ngoại giao đáng chú ý đầu tiên của Tô Lâm sau khi ông đảm nhiệm thêm chức vụ chủ tịch nước. Trong một hệ thống chính trị mà đường lối ngoại giao thường rất thận trọng, đi từng bước một, những cử chỉ ban đầu thường mang ý nghĩa quan trọng.”
    UCANEWS đánh giá những nỗ lực gần đây của Hà Nội nhằm tăng cường quan hệ với Tòa Thánh “cũng có thể được hiểu như một thông điệp rộng hơn gửi đến cộng đồng Công Giáo Việt Nam”. Với hơn 7,5 triệu người, theo số liệu thống kê tính đến ngày 31/12/ 2025, mặc dù chỉ là thiểu số trong một quốc gia nay đã hơn 102 triệu dân, tín hữu Công Giáo ở Việt Nam lại là một trong những cộng đồng tôn giáo gắn kết nhất, với các mạng lưới chặt chẽ được xây dựng xung quanh các giáo xứ, hội đoàn và đời sống tôn giáo chung. 
    Nhìn về viễn cảnh giáo hoàng Lêô XIV đến thăm Việt Nam, cha chánh xứ Giáo xứ Vườn Xoài Vũ Minh Hùng bày tỏ hy vọng về tương lai của Giáo hội: 
    “Khi mà chính phủ ngỏ lời mời thì chắc chắn có những điều tốt, đó là muốn cho tiếng nói của Việt Nam với thế giới, rồi tiếng nói Việt Nam với Giáo hội sẽ mở rộng ra nhiều hướng khác nhau. Hiện nay đã có đại diện thường trú ở Việt Nam, nhưng mai mốt sẽ có những trụ sở của ngài nữa. Mong muốn của giáo dân Việt Nam là có văn phòng chính thức của các đại diện Tòa Thánh, đại diện đức thánh cha. Chắc chính quyền cũng mong ước điều đó. 
    Bây giờ cũng không thấy cản trở gì, nhưng nếu có một quan hệ như vậy thì hai bên sẽ hiểu nhau hơn và có thể là có những điều tốt cho Giáo hội. Mình cũng hy vọng là những cơ sở tôn giáo sẽ được trả lại, tức là nếu mà bình thường hóa thì chắc chắn phải có những tiếng nói của các tổ chức tôn giáo tại Việt Nam, sẽ lấy lại được một số cơ sở của mình mà Nhà nước đang trưng dụng 50 năm nay.”
    Sắp tới đây, coi như Giáo hội Công Giáo Việt Nam sẽ có một cuộc "tổng diễn tập" cho việc đón tiếp giáo hoàng Lêô XIV, vì theo dự kiến, tại Trung tâm Hành hương Tắc Sậy ( Bạc Liêu ), vào ngày 02/07/2026 sẽ diễn ra Thánh lễ phong Chân phước ( Á Thánh ) cho cha Phanxicô Trương Bửu Diệp, với sự tham dự của cả 100.000 giáo dân từ các nơi. Đây là lần đầu tiên nghi thức tuyên phong Chân phước tổ chức tại Việt Nam và dĩ nhiên việc tổ chức thánh lễ sẽ có sự phối hợp chặt chẽ giữa Giáo hội với chính quyền địa phương. Kinh nghiệm từ sự phối hợp này chắn chắn sẽ hữu ích cho việc đón tiếp giáo hoàng Lêô XIV.
    Việt Nam - Vatican: Quan hệ tiến triển đều đặn
    Sau nhiều thăng trầm, quan hệ giữa Việt Nam và Vatican đã đạt được một bước tiến lớn với việc thông qua “Thỏa thuận Quy chế hoạt động của Đại diện thường trú và Văn phòng Đại diện thường trú Tòa Thánh tại Việt Nam”. Thỏa thuận đã được thông qua vào tháng 7/2023 khi chủ tịch nước của Việt Nam vào lúc đó là Võ Văn Thưởng thăm Tòa Thánh và gặp giáo hoàng Phanxicô. 
    Đến ngày 23/12 năm đó, Tòa Thánh Vatican chính thức công bố việc tổng giám mục Marek Zalewski được giáo hoàng Phanxicô bổ nhiệm làm Đại diện thường trú đầu tiên của Tòa Thánh tại Việt Nam. Tổng giám mục Marek Zalewski nguyên là sứ thần Tòa Thánh tại Singapore và đã kiêm nhiệm Đặc phái viên không Thường trú của Tòa Thánh tại Việt Nam từ năm 2018. Việt Nam là quốc gia Cộng Sản duy nhất mà Vatican có đại diện thường trú. Trước chủ tịch Quốc Hội Việt Nam Trần Thanh Mẫn, giáo hoàng Lêô XIV đã tiếp phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân vào cuối tháng 6/2025 và tiếp Nhóm Công tác hỗn hợp Việt Nam – Tòa Thánh vào tháng 9/2025.
    Nhờ quan hệ Việt Nam - Tòa Thánh phát triển đều đặn như vậy, nói chung sinh hoạt của Giáo hội Công giáo Việt Nam nay cũng thuận lợi, cả trong việc bổ nhiệm các giám mục, mà trước đây là vấn đề vẫn gây rắc rối giữa Hà Nội với Vatican, theo lời linh mục Vũ Minh Hưng:
    "Chuyện đó rất là thuận lợi, tức là khi bên Tòa Thánh, bên (Giáo hội) Việt Nam mà có nhu cầu về các giám mục thì họ cũng không gây khó khăn gì. Tại vì bây giờ tư tưởng của các linh mục không làm cho họ sợ nữa, cho nên họ cũng không điều tra, rồi làm khó các linh mục như hồi xưa. Bây giờ thái độ của chính quyền hình như cũng dung hòa hơn. Mình có nhu cầu gì, xin thì cũng hơi khó, nhưng cũng giải quyết được."
  • EU giúp Việt Nam đào tạo nguồn lực chất lượng cao, toàn diện cho chuyển đổi xanh, chuyển đổi số

    20/04/2026
    Hơn 50 triệu euro được Liên Hiệp Châu Âu đầu tư cho Chương trình Giáo dục Nghề nghiệp Việt Nam (VETVET). Hiệp định được Liên Âu và chính phủ Việt Nam ký ngày 31/12/2025 và kéo dài đến năm 2030 nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề, xây dựng lực lượng lao động có kỹ năng, đáp ứng yêu cầu của quá trình chuyển đổi xanh, chuyển đổi số tại việt Nam.
    “Chuyển đổi xanh, chuyển đổi số” được trang Nhân Dân nhấn mạnh “là hai yếu tố căn bản cấu thành một xu thế tất yếu, không thể đảo ngược” của Việt Nam. Tuy nhiên, Việt Nam đang thiếu hụt nguồn nhân lực chuyên môn, có kỹ năng. Chương trình VETVET của Liên Hiệp Châu Âu được bộ trưởng Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Kim Sơn đánh giá “sẽ góp phần hiện đại hóa giáo dục nghề nghiệp và đáp ứng tốt hơn nhu cầu của thị trường lao động”.
    Về phía Liên Hiệp Châu Âu, trả lời phỏng vấn RFI Tiếng Việt ngày 20/01/2026, đại sứ Julien Guerrier cho biết Hiệp định tài trợ cho Chương trình Giáo dục nghề nghiệp Việt Nam-EU đánh dấu một bước tiến quan trọng trong việc tăng cường hợp tác song phương trong lĩnh vực giáo dục và phát triển kỹ năng. Chương trình VETVET cũng sẽ giúp Việt Nam tăng sức hấp dẫn cũng như đáp ứng nhu cầu nhân lực của các nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư châu Âu, vào Việt Nam.
    RFI : Một thỏa thuận mới về tài trợ Chương trình Giáo dục Nghề nghiệp (VETVET) đã được Liên Hiệp Châu Âu và Việt Nam đã ký ngày 31/12/2025. Xin Đại sứ cho biết chương trình hợp tác chung giữa Liên Hiệp Châu Âu và Việt Nam về lĩnh vực này được triển khai từ bao giờ và nhằm những mục tiêu nào ?
    Đại sứ Julien Guerrier : Đối với chúng tôi, chương trình VETVET là một sáng kiến ​​lớn nhằm tăng cường công tác đào tạo và giáo dục tại Việt Nam. Công tác chuẩn bị cho chương trình hợp tác và dự án này bắt đầu từ năm 2023, và chúng tôi ký thỏa thuận tài chính vào cuối năm 2025. Vì vậy, hiện nay chúng tôi đã sẵn sàng triển khai dự án này. Đây là một chương trình với nhiều nhà tài trợ, có tổng ngân sách hơn 50 triệu euro, có thể thấy là rất lớn, được đồng tài trợ bởi Liên Hiệp Châu Âu (40 triệu euro), Đức (10,4 triệu euro) và Pháp (500.000 euro). Chương trình sẽ do Expertise France và đối tác Đức là GIZ thực hiện, phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam.
    Chương trình kéo dài 5 năm, được bắt đầu ngay lập tức và kéo dài tới năm 2030. Mục tiêu của chương trình VETVET là hỗ trợ Việt Nam xây dựng một lĩnh vực giáo dục và đào tạo toàn diện, chất lượng cao và hiện đại, trang bị cho người Việt Nam những kỹ năng cần thiết cho nền kinh tế tương lai, đặc biệt là chuyển đổi số và chuyển đổi xanh. Thông qua chương trình này, chúng tôi sẽ thiết lập một số quan hệ đối tác với các doanh nghiệp. Chúng tôi sẽ nỗ lực tăng cường sức hấp dẫn và tính bền vững của ngành giáo dục và đào tạo tại Việt Nam để có được những kỹ năng về mặt khởi nghiệp và chuyển đổi số, chuyển đổi xanh.
    Đọc thêmEU và Việt Nam ký kết thỏa thuận chương trình đào tạo nghề trị giá 50 triệu euro
    RFI : Thỏa thuận mới “nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề, phát triển nguồn nhân lực kỹ năng cao”. Cụ thể là những ngành nghề nào được chú trọng ? Hoạt động đào tạo sẽ được tiến hành như thế nào ? Tại Việt Nam hay tại các nước thành viên EU tham gia chương trình ?
    Đại sứ Julien Guerrier : Sự hỗ trợ của Liên Hiệp Châu Âu dành cho đào tạo nghề tại Việt Nam sẽ tập trung vào các lĩnh vực đang thiếu hụt lao động tay nghề cao nhất, như chị đề cập, đặc biệt là trong các lĩnh vực năng lượng tái tạo, công nghệ cao kỹ thuật số, cho các ngành công nghệ cao như bán dẫn, công nghiệp xanh, nông nghiệp bền vững và công nghệ quản lý môi trường và lâm nghiệp. Đó là những lĩnh vực sẽ được chúng tôi tập trung tới.
    Chúng tôi sẽ hợp tác với khoảng ba mươi trường cao đẳng nghề và doanh nghiệp để giúp chúng tôi phát triển các kỹ năng này, trước hết là bằng cách đào tạo giảng viên, sau đó là đào tạo người Việt Nam trong các lĩnh vực này, trên khắp các vùng miền của Việt Nam, và đôi khi thông qua các chương trình trao đổi tại Liên Hiệp Châu Âu.
    Cách tiếp cận sẽ rất sát với nhu cầu thực tế, có nghĩa là các doanh nghiệp sẽ cho chúng tôi biết họ thiếu kỹ năng gì và sẽ cần kỹ năng gì trong tương lai, và chúng tôi sẽ có thể đào tạo giảng viên không chỉ ở các trường cao đẳng nghề mà ngay chính trong doanh nghiệp, những người mà sau này có thể tập trung vào việc đào tạo thanh niên trong những lĩnh vực khác nhau.
    Điều quan trọng đối với chúng tôi là cần bảo đảm sự tiếp cận công bằng và bình đẳng cho thanh niên, bao gồm cả những người đến từ các vùng khó khăn hoặc các dân tộc thiểu số. Do đó, chúng tôi sẽ bảo đảm rằng tài liệu đào tạo và phương pháp giảng dạy được triển khai sẽ phải bao gồm cả các nhóm dân tộc thiểu số, đồng thời thúc đẩy bình đẳng giới và khuyến khích chương trình đào tạo dành cho phụ nữ tại Việt Nam.
    RFI : Chương trình đào tạo này có thể mang lại lợi ích như thế nào cho hợp tác giữa EU và Việt Nam ?
    Đại sứ Julien Guerrier : Đối với Việt Nam, điều này rất rõ ràng, Việt Nam sẽ có nhiều kỹ năng hơn, một lĩnh vực đào tạo nghề hiện đại hơn rất nhiều, hiệu quả và chất lượng cao hơn để đào tạo giới trẻ cho các doanh nghiệp tương lai.
    Việc này cũng rất cần thiết đối với Liên Hiệp Châu Âu. Thứ nhất, bởi vì đó là một phần trong các chương trình của Liên Âu để đóng góp vào hành động chống biến đổi khí hậu trên toàn thế giới. Ngoài ra cũng bởi vì chúng tôi có rất nhiều nhà đầu tư tại Việt Nam. Chúng tôi có Hiệp định Thương mại Tự do và Hiệp định Đầu tư với Việt Nam. Vì vậy nhiều nhà đầu tư châu Âu đến đây, đầu tư vào các lĩnh vực mà chúng tôi có lợi thế cạnh tranh, cụ thể là các lĩnh vực xanh, bền vững và công nghệ số cao. Và đó là những lĩnh vực cần những kỹ năng này. Vì vậy, chúng tôi sẽ phải đào tạo nguồn nhân lực sau này có thể làm việc cho các công ty của chúng tôi đầu tư vào Việt Nam trong những lĩnh vực này.
    Đọc thêmViện trợ phát triển: Liên Âu dự trù 300 tỷ euro làm đối trọng với Trung Quốc
    RFI : Để “đáp ứng yêu cầu chuyển đổi xanh và chuyển đổi số tại Việt Nam”, Việt Nam cần nguồn nhân lực kỹ năng cao như thế nào ? Tình hình này có khẩn cấp không ?
    Đại sứ Julien Guerrier : Có, bởi vì đất nước đang chuyển mình rất, rất nhanh. Việt Nam đặt mục tiêu trung hòa carbon vào năm 2050, giống như Liên Hiệp Châu Âu. Việt Nam cũng khao khát đi đầu trong quá trình chuyển đổi số.
    Đối với chuyển đổi xanh, sẽ cần các kỹ sư năng lượng tái tạo, kỹ thuật viên, chuyên gia về biến đổi khí hậu, kỹ thuật viên khoa học môi trường và công nhân lành nghề trong các hoạt động nông nghiệp bền vững, ví dụ canh tác lúa phát thải thấp, cũng như trong ngành công nghiệp gỗ và quản lý rừng.
    Về chuyển đổi số, rất cần các kỹ sư và kỹ thuật viên trong các lĩnh vực điện tử, cơ điện tử và công nghệ thông tin. Ngoài ra cũng cần các chuyên gia về tự động hóa quy trình công nghiệp, robot và các lĩnh vực công nghệ cao khác, đặc biệt là chất bán dẫn, một lĩnh vực mà Việt Nam đang đặt mục tiêu phát triển nhanh chóng.
    Có thể thấy là có khá nhiều lĩnh vực kỹ thuật cần những con người có thể sử dụng phần mềm mới nhất, tích hợp các giải pháp số vào các ngành công nghiệp truyền thống hơn, và sử dụng tối ưu nguồn năng lượng hiện có. Đó là những kỹ sư trong lĩnh vực năng lượng tái tạo, lĩnh vực số hóa, cũng như trong mọi ngành công nghiệp ở Việt Nam, để tích hợp những công nghệ này vào các ngành công nghiệp truyền thống hơn.
    RFI : Chương trình VETVET có tương ứng và đáp ứng với kế hoạch 5 năm được đề ra trong Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ XIV ?
    Đại sứ Julien Guerrier : Hoàn toàn đúng vậy. Tôi đã tham dự lễ khai mạc Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam sáng 20/01. Đại hội quyết định việc bổ nhiệm lãnh đạo cho 5 năm tới, cũng như các chính sách cần theo đuổi. Các ưu tiên là chuyển đổi số và chuyển đổi xanh. Và đối với hai ưu tiên này, mục tiêu số một là phát triển nguồn nhân lực bởi vì đó là điều kiện tiên quyết để thành công trong hai quá trình chuyển đổi này. Vì vậy, theo kế hoạch của Đảng, đây là điểm đứng đầu trong các ưu tiên cho 5 năm tới. Và điều này hoàn toàn phù hợp với nhu cầu của người dân Việt Nam để phát triển đất nước một cách bền vững. Do đó, giữa các ưu tiên của Liên Hiệp Châu Âu và các ưu tiên của Việt Nam có sự tương đồng hoàn hảo về vấn đề này.
    RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn Đại sứ Liên Hiệp Châu Âu tại Việt Nam Julien Guerrier.
  • Trung Quốc xây tiền đồn mới ở Hoàng Sa và phản ứng chậm trễ của Việt Nam

    13/04/2026
    Đầu tháng 1/2026, tuần báo Mỹ Newsweek tiết lộ Trung Quốc đang xây dựng một tiền đồn mới trên Đá Hải Sâm ( Antelope Reef ), một bãi cạn thuộc quần đảo Hoàng Sa, mà Việt Nam và Trung Quốc vẫn tranh chấp chủ quyền. Ảnh vệ tinh Sentinel-2 của Cơ quan Không gian châu Âu cho thấy hoạt động nạo vét và xây dựng đảo nhân tạo tại bãi đá này đã bắt đầu từ giữa tháng 10/2025. 
    Trong một báo cáo đề ngày 19/03/2026, tổ chức Sáng kiến Minh bạch Hàng hải châu Á ( AMTI ) nhận định đây là dự án xây dựng đảo nhân tạo quy mô lớn đầu tiên mà Bắc Kinh thực hiện ở Biển Đông kể từ năm 2017. Theo AMTI, nếu việc xây dựng tiếp tục với tốc độ như được thể hiện trong ảnh vệ tinh, Đá Hải Sâm sẽ trở thành thực thể lớn nhất của Trung Quốc ở quần đảo Hoàng Sa và có thể sẽ là thực thể lớn nhất trên toàn bộ Biển Đông, ngang bằng, hoặc thậm chí vượt qua kích thước của Đá Vành Khăn ( Mischief Reef ) ở quần đảo Trường Sa. 
    Đá Hải Sâm thuộc nhóm đảo Lưỡi Liềm ở phía tây nam của quần đảo Hoàng Sa, nằm cách cảng Tam Á ở tỉnh Hải Nam, Trung Quốc khoảng 300 km và cách Đà Nẵng, Việt Nam khoảng 400 km, trước đây là một trong những tiền đồn nhỏ nhất của Trung Quốc ở quần đảo Hoàng Sa. Bắc Kinh đã bắt đầu hoạt động nạo vét quy mô lớn tại Hải Sâm vào tháng 10 năm 2025 và trong những tuần gần đây đã bắt đầu xây dựng sơ bộ trên một số khu vực của rạn san hô.
    Trả lời RFI Việt ngữ ngày 01/04/2026, nhà nghiên cứu về Biển Đông Hoàng Việt ghi nhận: 
    "Đá Hải Sâm thì bắt đầu từ khoảng tháng 12/2025 mới rõ tầm vóc xây dựng, có lẽ đã gần bằng đảo Phú Lâm, đảo trung tâm mà Trung Quốc đã xây dựng. Và như vậy có khả năng sau này Hải Sâm sẽ là thực thể lớn nhất của Trung Quốc chăng? Chúng ta biết Hoàng Sa là quần đảo tranh chấp giữa Trung Quốc và Việt Nam, nhưng Trung Quốc đã chiếm toàn bộ rồi. Cho nên hiện nay Trung Quốc muốn xây gì thì cũng không ai làm gì được. Các quốc gia, trong đó có Việt Nam, chỉ đứng ngoài quan sát thôi. Việt Nam mới đây cũng đã có phản đối. 
    Cách đây khoảng 10 năm, năm 2015, Trung Quốc đã tuyên bố không xây dựng nữa. Nhưng cuối năm 2025 lại xây dựng. Vấn đề quan trọng là Trung Quốc muốn khẳng định vai trò của mình. Trung Quốc vẫn cho rằng Tây Sa ( Hoàng Sa ) là của Trung Quốc, không có tranh chấp gì cả. Nhưng điều này là không đúng, bởi vì Việt Nam có đầy đủ bằng chứng lịch sử, pháp lý để khẳng định chủ quyền của mình trên Hoàng Sa."
    Sử dụng ảnh vệ tinh thương mại gần đây từ công ty Vantor của Mỹ, AMTI đã ước tính diện tích đất lấn biển tại Đá Hải Sâm là vào khoảng 603 hectare. Con số này rất đáng chú ý khi so sánh với quy mô các thực thể của Trung Quốc ở quần đảo Hoàng Sa. Thực thể lớn nhất hiện nay trong khu vực là đảo Phú Lâm. Mặc dù có căn cứ không quân và hải quân cùng với "thành phố" Tam Sa quản lý toàn bộ Biển Đông, đảo này chỉ rộng khoảng 360 hecta. Đá Vành Khăn, tiền đồn lớn nhất của Trung Quốc ở Biển Đông, có tổng diện tích đất là khoảng 608 hectare, khác biệt không đáng kể so với diện tích hiện tại của Đá Hải Sâm.
    Đá Hải Sâm giờ đây có thể chứa được một đường băng dài khoảng 2.700 mét, thuộc loại mà Trung Quốc đã xây dựng tại đảo Phú Lâm, Đá Vành Khăn, Đá Subi và Đá Chữ Thập ( Fiery Cross ). Phía tây bắc của vùng đất mới tại Đá Hải Sâm, trải dài hơn khoảng 3.200 mét, được tạo hình với một cạnh ngoài thẳng tắp rõ rệt, rất phù hợp cho một đường băng. 
    Cũng theo AMTI, mặc dù một số đảo thuộc nhóm đảo Lưỡi Liềm có hải cảng, nhưng cảng tại Đá Hải Sâm sẽ lớn hơn nhiều và như vậy lực lượng Hải cảnh cùng với một lượng lớn dân quân biển của Trung Quốc có thể duy trì sự hiện diện tại đây, như ở Đá Vành Khăn trong những năm gần đây. Với kích thước như hiện nay, Đá Hải Sâm cũng có thể được xây dựng những cơ sở hạ tầng quy mô giống như ở Phú Lâm và ba tiền đồn lớn của Trung Quốc (Đá Vành Khăn, Đá Subi và Đá Chữ Thập) ở quần đảo Trường Sa, bao gồm các nhà máy điện diesel, các kho chứa ngầm, các vị trí phòng thủ bờ biển, các cơ sở tên lửa địa đối không và tên lửa chống hạm, cũng như nhiều cơ sở giám sát và tác chiến điện tử. 
    Công tác xây dựng sơ bộ đã bắt đầu ở một số khu vực của rạn san hô. Hơn 50 công trình nhỏ mái xám và một bãi đáp trực thăng đã được xây dựng. Có khả năng ít nhất một số công trình ban đầu này là các cơ sở tạm thời, sau này sẽ được thay thế bằng cơ sở hạ tầng kiên cố hơn, như đã thấy trong quá trình xây dựng các tiền đồn của Trung Quốc ở quần đảo Trường Sa. 
    Theo AMTI, nếu được phát triển thành một cơ sở quân sự ngang tầm với các tiền đồn lớn khác của Trung Quốc, Đá Hải Sâm sẽ giúp mở rộng phạm vi hoạt động của các cơ quan tình báo Trung Quốc đến gần bờ biển Việt Nam hơn và cung cấp thêm năng lực cho các lực lượng hải quân và không quân của Trung Quốc ở phía bắc Biển Đông. Vị trí gần Hải Nam của Đá Hải Sâm cũng có thể mang lại cho Bắc Kinh cơ hội mở rộng nỗ lực thiết lập sự hiện diện dân sự ở quần đảo Hoàng Sa. 
    Mặc dù điều này có thể không làm thay đổi đáng kể toàn cảnh chiến lược ở Biển Đông, nhưng Bắc Kinh chắc chắn đang phát tín hiệu về khả năng liên tục mở rộng các thực thể mà họ chiếm đóng, một thông điệp có lẽ nhắm trực tiếp nhất vào Hà Nội, vì các hoạt động bồi đắp đảo của Việt Nam ở quần đảo Trường Sa vẫn đang tiếp diễn. 
    Về điểm này, nhà nghiên cứu Hoàng Việt nhận định: 
    "Năm ngoái báo chí nước ngoài cho rằng Việt Nam bồi lấp rất mạnh trên quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Báo Mỹ cho biết Việt Nam đã bồi lấp khoảng 70% so với Trung Quốc. Trung Quốc cũng có phản đối nhưng cũng không căng thẳng lắm. Trung Quốc lần này muốn gia tăng xây dựng trên Đá Hải Sơn để khẳng định chủ quyền của mình, cũng như khẳng định Trung Quốc vẫn là mạnh nhất và không ai có thể ngăn chặn được Trung Quốc.
    Đương nhiên các quốc gia khác cho rằng Trung Quốc vẫn vi phạm luật pháp quốc tế, nhưng rõ ràng trong trường hợp này Trung Quốc vẫn đang thể hiện sức mạnh của mình, đặc biệt là đối với quần đảo Hoàng Sa. Trung Quốc đã nắm quần đảo Hoàng Sa rồi và bây giờ họ xây mạnh lên thì rõ ràng là nó giống như một pháo đài, một chiến hạm không bị chìm trên biển. Và điều này đem lại cho họ rất nhiều lợi ích.
    Phía Việt Nam có bồi lấp nhưng mà không thể bằng Trung Quốc. Trong thời gian qua, Trung Quốc không những bồi lấp mà còn quân sự hóa các thực thể đó."
    Nhưng điều đáng chú ý là mặc dù thông tin về việc Trung Quốc gia tăng bồi lắp Đá Hải Sâm đã được tờ Newsweek tiết lộ từ tháng 1, nhưng trong suốt mấy tháng, Hà Nội vẫn im tiếng. Mãi cho đến ngày 21/03/2026, khi trả lời câu hỏi của phóng viên nhật báo Hồng Kông South China Morning Post, phát ngôn viên bộ Ngoại Giao Việt Nam Phạm Thu Hằng mới ra tuyên bố, nhắc lại là Việt Nam “có đầy đủ chứng cứ lịch sử và cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa”, cho nên “mọi hoạt động của nước ngoài tại quần đảo Hoàng Sa, trong đó có đá Hải Sâm, mà không được sự cho phép của phía Việt Nam là hoàn toàn phi pháp và vô giá trị”.
    Đáp lại phát biểu nói trên của phát ngôn viên bộ Ngoại Giao Việt Nam, ngày 23/03, Bắc Kinh khẳng định các hoạt động xây dựng tại quần đảo Hoàng Sa chỉ nhằm mục đích “cải thiện điều kiện sống và thúc đẩy kinh tế địa phương”. Phát ngôn viên bộ Ngoại Giao Trung Quốc tuyên bố: “Quần đảo Tây Sa ( Hoàng Sa ) là một phần lãnh thổ không thể tách rời của Trung Quốc và không có tranh chấp nào về điều đó”. 
    Bối cảnh hiện nay, với cuộc chiến tranh Iran, có vẻ thuận lợi để Trung Quốc gia tăng bồi lấp đảo ở  Hoàng Sa, vì những cường quốc như Hoa Kỳ hay Nhật Bản, vốn vẫn mạnh mẽ chỉ trích những hoạt động bành trướng của Bắc Kinh ở Biển Đông, đều đang có những vấn đề lớn cần giải quyết, theo ghi nhận của nhà nghiên cứu Hoàng Việt:
    “Hiện nay trên thế giới, xung quanh của chúng ta là bao nhiêu cuộc chiến tranh: Cuộc chiến tranh giữa Thái Lan và Cam Bốt, cuộc chiến tranh giữa Pakistan và Afghanistan, rồi năm ngoái là cuộc chiến tranh giữa Pakistan và Ấn Độ này. Và hiện nay thì tại khu vực Trung Đông, Mỹ và Israel đang tấn công vào Iran. Dường như tổng thống Mỹ hiện nay lại phớt lờ vai trò của luật pháp quốc tế. Rất nhiều quốc gia tiếng phản đối Mỹ tấn công Iran, kể cả những nước phương Tây.
    Trong bối cảnh cảnh vô cùng lộn xộn hiện nay, có lẽ Trung Quốc cảm thấy ra tay lúc này là sẽ giành được rất nhiều lợi thế. Trung Quốc là cực kỳ khó chơi và tính toán rất ghê. Việt Nam cũng thấy rằng sức lực của Việt Nam so với Trung Quốc rất khác biệt. Trung Quốc lớn mạnh lắm, cạnh tranh với cả Mỹ. Cho nên đây cũng là những vấn đề mà Việt Nam phải xem xét và Việt Nam thấy rằng là trong bối cảnh hiện nay duy trì hòa bình vẫn là quan trọng. Mặc dù không phải là hòa bình bằng mọi giá, nhưng hòa bình vẫn là quan trọng nhất.”
    Thật ra, cả Hà Nội và Bắc Kinh có vẻ như đều có một cách tiếp cận thực dụng hơn để kềm chế căng thẳng do tranh chấp chủ quyền Biển Đông, thể hiện qua những phản ứng chừng mực của phát ngôn viên bộ Ngoại Giao hai nước. Tờ South China Morning Post ngày 02/04 trích dẫn ông Chu Phong (Zhu Feng), hiệu trưởng Trường Nghiên cứu Quốc tế, Đại học Nam Kinh, Trung Quốc nhận định, duy trì ổn định là ưu tiên hàng đầu của Bắc Kinh trong chính sách Biển Đông, hoạt động “song song một cách rất tinh vi” với việc duy trì chủ quyền của họ trong vùng biển tranh chấp. Hai cách tiếp cận này “có mối liên hệ mật thiết với nhau”. 
    Về phần mình, ông Carlyle Thayer, chuyên gia về Đông Nam Á và giáo sư danh dự tại Đại học New South Wales, ghi nhận: “Cũng có sự đồng thuận rằng tranh chấp chủ quyền biển đảo không nên cản trở sự phát triển của quan hệ song phương.”
    Cũng trên tờ nhật báo Hồng Kông, ông Nguyễn Khắc Giang, một nhà phân tích tại Viện Nghiên cứu Đông Nam Á của Singapore, cho rằng việc Việt Nam trì hoãn việc lên tiếng phản đối Trung Quốc cải tạo Đá Hải Sâm cũng có thể phản ánh suy nghĩ của Hà Nội trong các tranh chấp lãnh thổ với Bắc Kinh:  “Hà Nội từ trước đến nay luôn cân nhắc phản ứng giữa ngoại giao thầm lặng và phản đối công khai tùy theo bối cảnh: mức độ nghiêm trọng của hành động, tình trạng của mối quan hệ rộng hơn và những gì họ tin rằng có thể đạt được thông qua các kênh riêng tư”.
    Theo Nguyễn Khắc Giang, mối quan hệ song phương đang ấm lên cùng với việc cả hai nước gia tăng bồi lắp đảo cho thấy “một thực tế cơ bản” đối với Việt Nam: “Hà Nội có thể tăng cường hợp tác với Bắc Kinh tuy vẫn phản đối các yêu sách chủ quyền biển đảo của nước này. Tôi nghĩ đây là logic hoạt động của một quốc gia yếu hơn trong việc quản lý một mối quan hệ bất đối xứng.”
  • Khủng hoảng dầu lửa Trung Đông tạo thuận lợi cho Việt - Nga thúc đẩy hợp tác năng lượng

    06/04/2026
    Xung đột ở Trung Đông dẫn đến cuộc khủng hoảng dầu lửa toàn cầu cho thấy hạn chế tại nhiều nước, trong đó có Việt Nam. Các kho dự trữ, nằm trong tay những đối tác tư nhân, chỉ có thể cung cấp dầu lửa đến hết tháng 04/2026. Nhiều chuyến bay nội địa bị cắt giảm vì thiếu xăng. Việt Nam phụ thuộc rất nhiều vào các nguồn nhập khẩu dầu mỏ, do sản lượng trong nước sụt giảm vì các mỏ dầu ngoài khơi đang cạn dần sau thời gian dài khai thác.
    Trong khi đó, việc đa dạng hóa các nguồn năng lượng chưa hoàn toàn mang lại hiệu quả. Cuộc khủng hoảng này cũng cho thấy Việt Nam cần thiết lập hệ thống dự trữ nhiên liệu chiến lược quốc gia, theo trang Nhân Dân. Ngày 29/03, thủ tướng Phạm Minh Chính đã tới khảo sát địa điểm dự kiến xây dựng kho dự trữ xăng dầu chiến lược tại Khu kinh tế Nghi Sơn.
    Song song với nhiệm vụ cấp bách đó, Hà Nội vẫn đang “làm việc với Iran để đề nghị tạo điều kiện, có biện pháp hỗ trợ bảo đảm cho tàu, lao động Việt Nam di chuyển an toàn qua eo biển Hormuz”, theo phát biểu của người phát ngôn bộ Ngoại Giao Phạm Thu Hằng trong buổi họp báo thường kỳ ngày 02/04.
    Ngoài ra, chính phủ cũng khẩn trương triển khai “ngoại giao xăng dầu” với nhiều nước. Ví dụ đề xuất với Tokyo để được tiếp cận kho dự trữ chiến lược của Nhật Bản, đề nghị Trung Quốc xuất khẩu một phần xăng máy bay. Gần đây, trong chuyến công du Matxcơva, thủ tướng Phạm Minh Chính cũng đề nghị được mua dầu của Nga, cũng như tăng cường hợp tác trong lĩnh vực điện hạt nhân, năng lượng tái tạo.
    Việc hợp tác với Nga, đang bị phương Tây trừng phạt vì gây chiến ở Ukraina, có thể sẽ được tiến hành như thế nào ? Nga sẽ đóng vai trò như thế nào trong việc đa dạng hóa nguồn năng lượng của Việt Nam ? Tiến sĩ Vũ Khang, học giả thỉnh giảng, tại khoa Khoa học Chính trị, Đại học Boston, Mỹ, trả lời một số câu hỏi của RFI Tiếng Việt.
    RFI : Trước tiên, anh có thể tóm lược mối quan hệ hợp tác năng lượng giữa hai nước Việt Nam và Nga, gần đây là cam kết hợp tác phát triển điện hạt nhân, được ký vào ngày 23/03/2026 nhân chuyến công du Matxcơva của thủ tướng Phạm Minh Chính ? Vì sao có thể hợp tác được trong lĩnh vực điện hạt nhân mà không lo các biện pháp trừng phạt của phương Tây ?
    Vũ Khang : Khi kể đến quan hệ hợp tác năng lượng Việt Nam và Nga, chúng ta không thể không nhắc đến Vietsovpetro. Xí nghiệp này được thành lập từ năm 1981 với mục đích là giúp Việt Nam tiến hành thăm dò địa chất và khai thác dầu khí tại thềm lục địa phía Nam.
    Cần phải nhắc lại 1981 là giai đoạn mà Việt Nam và Liên Xô là đồng minh quân sự của nhau theo Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác ký vào năm 1978. Việt Nam đã tranh thủ mối quan hệ đó để phát triển và đảm bảo an ninh năng lượng của mình. Và kể cả sau khi Liên Xô tan rã vào năm 1991, Việt Nam vẫn duy trì xí nghiệp liên doanh này với Nga và các nước trong Cộng đồng các quốc gia độc lập SNG.
    Và chính nhờ có xí nghiệp liên doanh này mà từ con số 0, hiện giờ Việt Nam đang sở hữu hệ thống căn cứ dịch vụ dầu khí tổng hợp phục vụ cho các khâu, chuỗi hoạt động tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí ngoài khơi khá là toàn diện. Đây cũng là một cách mà Việt Nam bảo vệ và khẳng định chủ quyền của mình trên Biển Đông.
    Ngoài ra, hàng năm, liên doanh Vietsovpetro đóng vào ngân sách nhà nước và lợi nhuận cho Việt Nam khoảng 53 tỷ đô la. Đây là một khoản khá là lớn cho ngân sách của nhà nước Việt Nam nếu chúng ta tính GDP Việt Nam rơi vào khoảng 500 tỷ đô một năm.
    Đây là một nền tảng khá là vững chắc từ ngoại giao cho đến kỹ thuật để Việt Nam và Nga có thể tiến tới hợp tác ở các mảng khác trong hợp tác năng lượng.
    Đọc thêmViệt Nam và Nga “rửa tiền” mua vũ khí qua thỏa thuận dầu khí với VietSovPetro ?
    Nếu mà nói rộng hơn về thỏa thuận hợp tác về hạt nhân gần đây thì Nga, với tư cách là một trong năm nước được phép sở hữu vũ khí hạt nhân theo Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân NPT, có thể giúp đỡ Việt Nam nghiên cứu và sử dụng năng lượng hạt nhân vì mục đích dân sự theo như các điều khoản của Hiệp ước này.
    Kết quả chuyến thăm Nga của thủ tướng Phạm Minh Chính cho thấy hợp tác Việt - Nga sẽ không chỉ dừng lại ở phát triển năng lượng hạt nhân mà còn bao gồm cả năng lượng mới, năng lượng sạch và năng lượng tái tạo với tầm nhìn hơn 100 năm. 
    RFI : Việt Nam đề nghị mua thêm dầu của Nga trong bối cảnh căng thẳng ở Trung Đông vì eo biển Hormuz bị Iran kiểm soát và phong tỏa. Liệu đây có phải là thời cơ tốt để mua dầu Nga mà không bị ảnh hưởng nhiều bởi các biện pháp trừng phạt của phương Tây đối với Nga ? 
    Vũ Khang : Để giảm thiểu tác động của việc đóng cửa vịnh Hormuz do chiến tranh Mỹ và Iran, Hoa Kỳ đã dỡ bỏ các lệnh trừng phạt mua dầu của Nga trong 30 ngày. Điều này sẽ tạo điều điều kiện thuận lợi để Việt Nam mua được dầu của Nga mà không bị trừng phạt. Tuy vậy, hạn chế của lệnh dỡ bỏ này là chỉ có dầu của Nga đã được chất lên các tàu chở dầu thì mới không bị trừng phạt. Cho nên Việt Nam sẽ phải tiếp tục theo dõi tình hình từ phía Mỹ, cũng như là chiến tranh Mỹ và Iran sẽ kết thúc như thế nào.
    Đọc thêmTăng cường hợp tác năng lượng : Mục tiêu chính chuyến công du Nga của thủ tướng Việt Nam
    Một điểm hạn chế nữa khi mua dầu từ Nga, đó là đường vận chuyển khá là dài so với mua từ Trung Đông. Việt Nam mới chỉ đảm bảo được cho cung ứng dầu từ giờ cho đến hết tháng 04, có thể nói sẽ vẫn còn rất khó để chắc chắn là Việt Nam sẽ giải quyết ra sao nguồn cung dầu kể từ tháng 05 trở đi.
    RFI : Tương tự như nhiều nước trên thế giới, dầu lửa là nhiên liệu thiết yếu cho sản xuất. Việt Nam cần dầu nhập khẩu như nào để phát triển sản xuất ? 
    Vũ Khang : Hiện nay, Việt Nam phải nhập khẩu khoảng 30% lượng xăng dầu, tương đương với 20 tỷ đô la mỗi năm, để đáp ứng các nhu cầu tiêu thụ trong nước. Cuộc khủng hoảng dầu mỏ lần này chính là một phép thử cho khả năng chịu áp lực cho an ninh năng lượng của Việt Nam.
    Việt Nam, với khả năng của mình, đã tận dụng chính sách ngoại giao đa phương hóa, đa dạng hóa để thứ nhất, giữ trung lập trong cuộc chiến Mỹ và Iran ; thứ hai, tìm nguồn cung ứng dầu thô từ Kuwait và Nhật Bản, cũng như với các chuỗi chính sách khác trong nước, ví dụ dỡ bỏ thuế đối với xăng dầu tiêu thụ cho đến hết tháng 06 để tránh cho kinh tế Việt Nam rơi vào khủng hoảng.
    Đọc thêmViệt Nam thúc đẩy phát triển năng lượng tái tạo để bảo đảm sản xuất và trung hòa khí thải
    Việt Nam cũng sẽ phát triển kho dự trữ xăng dầu quốc gia riêng biệt tại tỉnh Thanh Hóa khi mà dự trữ hiện nay từ các doanh nghiệp dầu hỏa đầu mối của Việt Nam mới chỉ đủ cho 7 đến 10 ngày tiêu thụ.
    Nếu nhìn rộng hơn, giá xăng dầu cao cũng sẽ có tác động lớn đến các mặt hàng, hoặc những chính sách kinh tế khác của Việt Nam, vì xăng dầu tăng cao thì sẽ đẩy mạnh lạm phát, cũng như là đẩy mạnh giá trị của đô la. Trong khi đó Việt Nam hiện vẫn phải mua dầu quốc tế bằng đồng đô la, tỷ giá đô la tăng vọt cũng sẽ khiến cho các doanh nghiệp nhập khẩu nguyên liệu từ nước ngoài sản xuất và doanh nghiệp xuất khẩu gặp khó khăn nhiều hơn nữa trong tương lai gần.
    RFI : Nhìn rộng hơn, Việt Nam cần phải phát triển, đa dạng hóa nguồn năng lượng như thế nào để bảo đảm cho nhu cầu tiêu thụ trong nước và cho sản xuất ?
    Vũ Khang : Phát triển an ninh năng lượng là vấn đề sống còn với mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Việt Nam. Hiện nay, Việt Nam phải cân bằng giữa hai mục tiêu : vừa tăng trưởng GDP và vừa phải giảm khí thải carbon.
    Theo dữ liệu hiện nay, điện than đang chiếm tỷ trọng trên 33%, thủy điện 28%, năng lượng tái tạo - bao gồm năng lượng Mặt trời và năng lượng gió - khoảng 27%. Do Việt Nam phải dần dần từ bỏ điện than từ nay cho đến năm 2050 theo cam kết tại COP 26, nên Việt Nam bắt buộc phải tìm được nguồn cung thay thế đến từ thủy điện, năng lượng tái tạo và điện hạt nhân.
    Nếu chúng ta nhìn kỹ hơn, thủy điện Việt Nam lại đang chịu tác động rất là lớn từ môi trường khi mà hạn hán có thể làm chậm nguồn cung cho lưới điện. Năng lượng tái tạo, như là năng lượng Mặt trời hay là năng lượng gió, vẫn chưa đủ bảo đảm ổn định cho lưới điện quốc gia, do hai nguồn năng lượng này cũng phụ thuộc rất nhiều vào thời tiết.
    Đọc thêmViệt Nam sẽ có nhà máy điện hạt nhân đầu tiên vào năm 2030: Liệu có khả thi?
    Trong bối cảnh đó, điện hạt nhân lại là một nguồn năng lượng đáp ứng được yêu cầu ổn định và đây là một nguồn năng lượng sạch. Nhưng một điểm trừ rất lớn của điện hạt nhân, đó là chi phí đầu tư ban đầu và thời gian để bắt đầu vận hành có thể lên đến một thập kỷ hoặc hơn thế nữa. Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng và sản xuất điện hiện nay là 12 đến 15% mỗi năm để đáp ứng được cho mục tiêu phát triển GDP. Theo dự tính đến năm 2030, Việt Nam sẽ cần gấp đôi công suất điện so với hiện nay và đến năm 2050, Việt Nam sẽ cần gấp năm lần công suất điện so với hiện nay.
    Với quan điểm về an ninh quốc gia, Việt Nam có thể mua điện từ Lào hay là Trung Quốc nhưng do các nghi kỵ về chính trị với láng giềng phương Bắc, về tương lai dài hạn, đây không phải là một điều quá khả thi. Do nhìn chung Việt Nam không muốn phụ thuộc về năng lượng hay an ninh điện vào nước ngoài. Điều này đòi hỏi Việt Nam sẽ phải nhanh chóng đầu tư vào nhân lực, cũng như là cơ sở vật chất để phát triển điện hạt nhân, cũng như năng lượng tái tạo ngay từ bây giờ.
    Nhìn chung hơn, tự chủ năng lượng sẽ giúp cho Việt Nam duy trì tự chủ về mặt ngoại giao và tránh việc bị cuốn vào xung đột giữa các nước lớn, cũng như bảo đảm được an ninh năng lượng trong trường hợp chiến tranh xảy ra.
    RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn Vũ Khang, học giả thỉnh giảng, Khoa Chính trị học tại Trường Đại học Boston (Boston College), Hoa Kỳ.

About Tạp chí Việt Nam

Những vấn đề, sự kiện đang được dư luận quan tâm ở Việt Nam
Podcast website
Social
v8.8.14| © 2007-2026 radio.de GmbH
Generated: 5/5/2026 - 9:39:32 PM