“Những nhà lãnh đạo ảnh hưởng nhất trong lịch sử hiện đại Việt Nam đều được nhớ đến vì đã dẫn dắt những chuyển đổi mang tính cấu trúc” (1). Chỉ riêng năm 2025, Việt Nam triển khai hơn 550 dự án cơ sở hạ tầng trị giá khoảng 200 tỉ đô la. Hàng trăm dự án khác (điện hạt nhân, đường sắt cao tốc…) chuẩn bị được thực hiện. Mục tiêu cuối cùng là đạt tăng trưởng GDP ít nhất 10% trong nhiệm kỳ 2026-2030 và đưa Việt Nam thành nước có thu nhập trung bình cao.
Theo báo Vietnamnet ngày 15/04/2026, “thay vì dàn trải, nhiệm kỳ mới đang hướng tới ít dự án hơn nhưng mỗi dự án phải đủ lớn để kéo tăng trưởng, tạo việc làm và mở rộng không gian phát triển”. Liệu các đại dự án có đủ để kéo tăng trưởng lên không ? Làm thế nào để tăng trưởng đó được bền vững ? Những biến động địa-chính trị thế giới, đặc biệt là khủng hoảng dầu lửa ở Trung Đông, tác động như thế nào đến mục tiêu tăng trưởng của Việt Nam ?
RFI Tiếng Việt phỏng vấn ông Éric Mottet, chuyên gia địa-chính trị Đông Nam Á và khu vực Ấn Độ-Thái Bình Dương, giám đốc nghiên cứu tại Trung Tâm Nghiên cứu về Ấn Độ - Thái Bình Dương (CREIP), Đại học Laval, Québec, Canada.
RFI : Trước tiên, xin ông giải thích những yếu tố nào góp phần vào sự tăng trưởng của một quốc gia ?
Éric Mottet : Theo ước tính có khoảng bảy yếu tố then chốt tác động đến tăng trưởng kinh tế, có thể hoạt động đồng thời hoặc riêng lẻ. Trước hết là lao động, bao gồm quy mô dân số trong độ tuổi lao động, tỷ lệ việc làm, trình độ học vấn, kỹ năng và chất lượng đào tạo của người lao động. Một lực lượng lao động năng động, được đào tạo tốt sẽ tạo ra của cải hiệu quả hơn.
Tiếp theo là vốn vật chất và vốn con người, tức là chất lượng máy móc được sử dụng, cơ sở hạ tầng, công nghệ, kỹ năng và bí quyết. Một quốc gia càng đầu tư nhiều vào nhà máy, đường xá và máy móc, thì càng giúp tăng năng suất và sản lượng quốc gia.
Yếu tố thứ ba là tiến bộ công nghệ. Quốc gia đó có đầu tư vào đổi mới, công nghệ mới, nghiên cứu và phát triển không ? Bởi vì đây là một động lực rất cần thiết cho tăng trưởng, ít nhất là trong dài hạn. Ví dụ trí tuệ nhân tạo (AI), hiện tại đã rất quan trọng và sẽ còn quan trọng hơn nữa trong tương lai.
Đọc thêmDự án nhà máy hạt nhân: Nhật Bản rút đi, Việt Nam sẽ khó đạt mục tiêu về điện nguyên tử
Tiếp theo, cần phải nói đến thể chế và khuôn khổ chính trị, tức là sự ổn định chính trị, tôn trọng pháp luật và quyền sở hữu nói riêng, cũng như hiệu quả quản lý nhà nước. Nói cách khác, một môi trường ổn định khuyến khích đầu tư, nhất là đầu tư nước ngoài, và tạo dựng niềm tin là điều vô cùng cần thiết để tạo ra của cải và phát triển kinh tế.
Sự mở cửa kinh tế nằm trong số những tiêu chí khác cũng rất quan trọng. Thương mại quốc tế giúp tiếp cận thị trường mới, công nghệ mới và tài nguyên thiên nhiên như dầu khí, khoáng sản, đất nông nghiệp, từ đó tăng trưởng kinh tế. Tất cả những yếu tố này có thể thúc đẩy tăng trưởng, nhưng không phải là thiết yếu. Ví dụ, ở châu Á, Nhật Bản và Hàn Quốc phát triển mạnh dù nguồn tài nguyên hạn chế.
Cuối cùng là nhu cầu nội địa. Mức tiêu dùng hộ gia đình, đầu tư kinh doanh, chi tiêu công của chính phủ Việt Nam như thế nào ? Nhu cầu mạnh mẽ sẽ kích thích sản xuất và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của một quốc gia.
RFI : Các dự án lớn đóng vai trò như thế nào trong tăng trưởng của một quốc gia ? Chúng có góp phần duy trì tốc độ tăng trưởng không ?
Éric Mottet : Có, các dự án lớn - tức là các dự án cơ sở hạ tầng, công nghiệp, năng lượng và công nghệ - đóng vai trò quan trọng trong sự tăng trưởng kinh tế của một quốc gia. Việc này diễn ra ở nhiều cấp độ.
Thứ nhất, các công trình hạ tầng kích thích nền kinh tế ngắn hạn bằng cách tạo ra việc làm, tăng nhu cầu đối với vật liệu, dịch vụ và thiết bị xây dựng. Chẳng hạn, việc xây dựng đập hoặc đường cao tốc sẽ tạo ra doanh thu và hoạt động kinh tế ngay lập tức. Sau đó, năng suất được cải thiện trong dài hạn, ví dụ các cơ sở hạ tầng giao thông giúp giảm chi phí vận chuyển và thời gian di chuyển, tạo thuận lợi cho nền kinh tế phát triển.
Điều này đặc biệt quan trọng ở một quốc gia như Việt Nam, vì giúp di chuyển hàng hóa và con người thuận lợi hơn, nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp và tăng khả năng cạnh tranh cả trong nước cũng như với các công ty nước ngoài. Cơ sở hạ tầng tốt cũng thu hút đầu tư nước ngoài, ví dụ việc xây dựng cảng mới, khu công nghiệp hay đặc khu kinh tế sẽ thu hút các công ty nước ngoài còn do dự. Hơn nữa, cơ sở hạ tầng chất lượng cao còn thúc đẩy tiến bộ công nghệ ; các dự án năng lượng tái tạo và thành phố thông minh kích thích đổi mới sáng tạo trên toàn quốc.
Đọc thêmViệt Nam muốn thành “cứ điểm” sản xuất thế giới nhưng thiếu cơ sở hạ tầng
Một yếu tố quan trọng khác là giảm bất bình đẳng lãnh thổ. Việc xây dựng cơ sở hạ tầng chất lượng trên toàn quốc có thể giúp kết nối các vùng xa xôi, nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ giáo dục, y tế và việc làm. Một tuyến đường bộ hay đường sắt có thể thay đổi đáng kể một khu vực nông thôn hoặc vùng sâu, vùng xa.
Tuy nhiên, các dự án cơ sở hạ tầng quy mô lớn cũng có những hạn chế. Nhìn chung chúng có chi phí rất cao, có thể dẫn đến rủi ro nợ nần đáng kể cho một nước và cũng có thể gây ra nhiều vấn đề nếu bị quản lý kém hoặc có tham nhũng. Các dự án này cũng có thể gây tác động xấu đến môi trường.
Theo tôi, tất cả các dự án cơ sở hạ tầng lớn đều không bảo đảm tăng trưởng nếu bị quy hoạch kém. Do đó, chúng phải được quy hoạch tốt, có hệ thống quản lý hiệu quả và thiết kế bền vững ngay từ đầu.
RFI : Trong nhiệm kỳ 5 năm (2026-2030), Việt Nam sẽ triển khai nhiều dự án cơ sở hạ tầng quy mô lớn (đường sắt cao tốc, nhà máy điện hạt nhân, sân bay Long Thành, mạng lưới đường sắt đô thị tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh). Những dự án này có ý nghĩa và vai trò như thế nào trong việc đạt được mục tiêu tăng trưởng ít nhất 10% do đảng và Quốc Hội Việt Nam đề ra cho nhiệm kỳ này ?
Éric Mottet : Đúng là các dự án hạ tầng lớn trong kế hoạch 5 năm đến năm 2030 là trụ cột chiến lược và trọng tâm phát triển. Chúng là đòn bẩy quan trọng giúp nền kinh tế hướng tới mục tiêu tăng trưởng bình quân 10%, tương tự những gì Trung Quốc đã trải qua trong những năm 1990-2000, thậm chí là cả thập niên 2010. Các dự án này là động lực mạnh mẽ cho tăng trưởng ngắn hạn, như đã nói ở trên, vì sẽ huy động đầu tư công và tư nhân, tạo việc làm, thúc đẩy các ngành liên quan như xi măng, thép và logistics. Nhờ đó, chúng trở thành chất xúc tác mạnh, thúc đẩy kinh tế tức thời, và theo tôi, sẽ làm góp phần tăng GDP ngay khi được triển khai.
Hơn nữa, các dự án hạ tầng lớn còn cho phép cải thiện cấu trúc năng suất của một quốc gia như Việt Nam. Khi hệ thống hạ tầng được nâng cấp, chi phí logistics giảm, thời gian vận chuyển được rút ngắn và độ tin cậy tăng lên, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho lưu thông hàng hóa và kết nối thương mại giữa các vùng. Chẳng hạn, tuyến đường sắt cao tốc Hà Nội - TP. HCM sẽ rút ngắn khoảng cách địa lý, tăng cường liên kết kinh tế Bắc - Nam, đồng thời góp phần củng cố sự gắn kết quốc gia. Và như vậy sẽ nâng cao sức thu hút của Việt Nam.
Đọc thêmChuyển toàn bộ chuyến bay quốc tế về Long Thành: Giới chuyên gia Việt Nam quan ngại
Bên cạnh đó, các dự án như sân bay Long Thành hay việc phát triển các đô thị hiện đại sẽ nâng cao vị thế của Việt Nam trong mạng lưới giao thông và thương mại quốc tế, cả về du lịch lẫn kinh tế. Những công trình này còn cho phép một thành phố lớn như TP. HCM cạnh tranh với những trung tâm logistics hàng đầu khu vực như Bangkok, Singapore hay Hồng Kông. Nhờ vậy, mô hình tăng trưởng cũng có cơ hội chuyển dịch. Ngoài ra, các dự án năng lượng như nhà máy điện hạt nhân, nếu được triển khai hiệu quả, sẽ bảo đảm nguồn cung điện ổn định và sẽ giúp nền kinh tế phát triển theo hướng cao cấp hơn.
Tôi cho rằng tất cả những lý do này sẽ giúp củng cố tăng trưởng kinh tế. Và cần nhắc lại, nếu được triển khai một cách thông minh, bền vững và quản lý hiệu quả, những công trình cơ sở hạ tầng này sẽ giúp Việt Nam đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế hàng năm và đưa Việt Nam trở thành một nền kinh tế quan trọng tại châu Á.
RFI : Liệu sự tăng trưởng này (một phần nhờ các dự án lớn) có bền vững không ?
Éric Mottet : Các dự án cơ sở hạ tầng có thể bền vững, nhưng không phải tự nhiên mà có mà phụ thuộc vào cách chúng được thiết kế, tài trợ và tích hợp vào nền kinh tế. Để đạt hiệu quả, cần xem xét nhiều yếu tố quan trọng. Trước hết, hạ tầng phải thực sự thiết thực. Thực tế cho thấy ở nhiều nước như Trung Quốc, kể cả Việt Nam, vẫn tồn tại các công trình được đầu tư lớn nhưng hiệu quả sử dụng thấp. Vì vậy, tính hữu ích và đáp ứng nhu cầu kinh tế thực sự là tiêu chí hàng đầu. Khi được quản lý tốt, cơ sở hạ tầng sẽ hỗ trợ tăng trưởng dài hạn.
Thứ hai, các dự án hạ tầng cần đóng vai trò thúc đẩy chuyển đổi sang nền kinh tế có năng suất cao hơn, thay vì chỉ tạo ra tác động ngắn hạn. Điều này đòi hỏi hạ tầng phải được quy hoạch với tầm nhìn dài hạn, từ 10 đến 30 năm, thậm chí là 40 năm. Một công trình chỉ mang lại hiệu ứng tạm thời trong giai đoạn xây dựng sẽ không có nhiều ý nghĩa. Vì vậy, tính bền vững cần được đặt trong tầm nhìn nhiều thập niên.
Đọc thêmViệt Nam : Giấc mơ đường sắt cao tốc và bài toán 70 tỉ USD
Bên cạnh đó, các dự án hạ tầng cũng cần được quản lý tài chính hiệu quả. Nợ công phải được kiểm soát ở mức an toàn và các dự án cần tạo ra hiệu quả kinh tế rõ rệt trong vòng 10-20 năm. Do đó, sự tăng trưởng được tài trợ này không nên phụ thuộc quá nhiều vào vay nợ mà cần hướng đến khả năng tự tạo nguồn thu và sinh lời trong thời gian hợp lý.
Ngoài ra, để các công trình hạ tầng bền vững, chúng cần được triển khai theo hướng thân thiện với môi trường, tránh gây tác động tiêu cực lâu dài. Đồng thời, cần có cơ chế quản lý minh bạch, quy hoạch hiệu quả, có tính đến những tác động xã hội và môi trường mà mọi dự án hạ tầng lớn có thể gây ra khi được triển khai tại một khu vực nhất định.
RFI : Chúng ta thấy một yếu tố mới xuất hiện : cuộc khủng hoảng năng lượng và dầu mỏ do chiến tranh ở Trung Đông. Yếu tố này sẽ tác động như thế nào đến các dự án lớn của Việt Nam và, quan trọng hơn, đến sự tăng trưởng của đất nước ?
Éric Mottet : Căng thẳng và khủng hoảng tại Trung Đông tạo ra một “cú sốc bên ngoài” đối với Việt Nam và có thể ảnh hưởng trực tiếp đến các dự án hạ tầng lớn và triển vọng tăng trưởng. Tôi cho rằng tác động tiêu cực trong ngắn hạn được thể hiện rõ qua việc giá nguyên vật liệu tăng mạnh, đặc biệt là dầu khí. Điều này làm leo thang chi phí xây dựng, bởi vì thép, xi măng và nhựa đường đều tăng giá đáng kể ; riêng nhựa đường tại nhiều nước đã tăng từ 30-50%.
Chi phí năng lượng tăng cao làm đội chi phí tổng thể của các dự án, đồng thời gia tăng nguy cơ chậm tiến độ hoặc vượt ngân sách. Những yếu tố này có thể ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính và khả năng sinh lời của các công trình hạ tầng quy mô lớn. Đặc biệt, các dự án có vốn đầu tư lớn như đường sắt cao tốc, sân bay hay nhà máy điện hạt nhân có thể trở nên đắt đỏ hơn nhiều so với dự kiến ban đầu do khủng hoảng Trung Đông, nhất là nếu còn kéo dài trong nhiều tháng.
Đọc thêmChiến tranh Trung Đông tác động đến hấp lực xuất khẩu và tăng trưởng của Việt Nam
Khủng hoảng tại Trung Đông là trở ngại đáng kể đối với tăng trưởng kinh tế Việt Nam. Giá năng lượng tăng gây ra lạm phát nhập khẩu, làm suy giảm sức mua của hộ gia đình và thu hẹp biên lợi nhuận của doanh nghiệp. Khi chi phí năng lượng tăng, doanh nghiệp phải gánh chi phí cao hơn, từ đó hạn chế khả năng đầu tư và mở rộng sản xuất. Vì vậy, mục tiêu đạt mức tăng trưởng 10% mỗi năm của Việt Nam có nguy cơ trở nên khó khăn hơn trong giai đoạn 2026-2027, thậm chí là 2028 nếu khủng hoảng Trung Đông còn kéo dài.
Tuy nhiên, không phải mọi tác động đều tiêu cực. Trong trường hợp của Việt Nam, khủng hoảng còn có thể trở thành động lực thúc đẩy quá trình chuyển đổi năng lượng. Chúng ta có thể thấy rõ rằng Việt Nam hiện rất nhạy cảm với những cú sốc năng lượng từ bên ngoài. Điều này có thể thúc đẩy chính phủ đẩy nhanh chiến lược đa dạng hóa nguồn cung, bao gồm phát triển điện hạt nhân và mở rộng năng lượng tái tạo. Về dài hạn, những bước đi này sẽ giúp Việt Nam giảm phụ thuộc vào dầu khí, đặc biệt là nhập khẩu dầu mỏ.
Khủng hoảng Trung Đông không hoàn toàn tiêu cực, tôi cho rằng Việt Nam hiểu rõ điều này. Tuy vậy, biến động năng lượng vẫn có thể cản trở mục tiêu tăng trưởng bình quân 10% được đề ra trong giai đoạn 2026-2030.
RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn giám đốc nghiên cứu Éric Mottet, Trung Tâm Nghiên cứu về Ấn Độ - Thái Bình Dương (CREIP), Đại học Laval, Québec, Canada.
(1) Dan Martin, Văn phòng tư vấn Dezan Shira & Associates, được AFP trích dẫn ngày 08/04/2026