Skip to content
PodcastsTạp chí Việt Nam

Tạp chí Việt Nam

Tạp chí Việt Nam
Latest episode

90 episodes

  • Việt Nam cần thoát khỏi danh sách "thiên đường thuế" của EU, Pháp có giúp được không?

    07/09/2026
    Tháng 02/2026, Liên Hiệp Châu Âu (EU) đưa Việt Nam vào danh sách các khu vực không hợp tác về thuế do “chưa đạt mức xếp hạng tối thiểu là “Tuân thủ phần lớn” (Largely Compliant) theo đánh giá của Diễn đàn Toàn cầu về cơ chế trao đổi thông tin theo yêu cầu”. Đến tháng 08, Việt Nam đã nộp hồ sơ đề nghị đánh giá chuyên sâu, hướng tới nâng hạng tuân thủ, đưa Việt Nam ra khỏi danh sách các khu vực không hợp tác về thuế của EU (1).
    Được rút hỏi danh sách đen về thuế không chỉ giúp Việt Nam tránh các biện pháp trừng phạt phòng vệ từ các đối tác lớn như Liên Hiệp Châu Âu, mà còn củng cố uy tín quốc gia trong hệ thống tài chính toàn cầu. Đây có thể được coi là mục đích chính trong chuyến thăm công tác tại Pháp của tổng bí thư-chủ tịch nước Việt Nam Tô Lâm từ ngày 09 đến 11/09/2026. Pháp có thể hỗ trợ được Việt Nam như thế nào trong lần đánh giá sắp tới của Liên Hiệp Châu Âu, dự kiến diễn ra tháng 10/2026 ?
    RFI Tiếng Việt phỏng vấn giám đốc nghiên cứu Benoît de Tréglodé, Viện Nghiên cứu Chiến lược Trường Quân sự Pháp, IRSEM.
    RFI : Trong bản cập nhật ngày 17/02/2026, Việt Nam và chín vùng lãnh thổ và quốc gia khác nằm trong danh sách "các khu vực pháp lý thuế không hợp tác" của Liên Hiệp Châu Âu. Đợt đánh giá tiếp theo dự kiến ​​vào tháng 10/2026. Quyết định của Liên Âu gây bất lợi như thế nào cho Việt Nam về hình ảnh và các quyết định đầu tư, đặc biệt trong bối cảnh Mỹ cũng mở ba cuộc điều tra đối với Việt Nam ?
    Benoît de Tréglodé : Điều đầu tiên cần lưu ý là trong thời gian qua đã diễn ra nhiều cuộc tiếp xúc cấp cao giữa tổng thống Pháp và chủ tịch nước kiêm tổng bí thư Việt Nam. Đây là lần thứ ba hai nhà lãnh đạo gặp nhau trong chưa đầy hai năm. Cuộc gặp đầu tiên diễn ra bên lề Hội nghị Thượng đỉnh Cộng đồng Pháp ngữ tại Villers-Cotterêts năm 2024, tiếp đó là cuộc gặp tại Hà Nội vào tháng 05/2025 và lần này là cuộc gặp thứ ba. Tuy nhiên, cũng cần nhìn nhận rằng quan hệ song phương vẫn chưa đạt được tốc độ phát triển như kỳ vọng của cả hai nước.
    Trong bối cảnh đó, có một số vấn đề đáng được xem xét. Chuyến đi lần này mang tính chất chuyến công tác, không phải chuyến thăm cấp Nhà nước, do đó nội dung làm việc sẽ không chỉ giới hạn ở các vấn đề song phương. Dù một số ý kiến cho rằng hợp tác trong lĩnh vực không gian và hàng hải sẽ được thảo luận nhưng tôi cho rằng Việt Nam còn quan tâm đến nhiều mục tiêu quan trọng khác. Đáng chú ý, phái đoàn tháp tùng ông Tô Lâm từ ngày 09 đến 11/09 có quy mô rất lớn, khoảng 180 thành viên.
    Việt Nam hiện có hai mối quan tâm hàng đầu. Thứ nhất là việc bị Liên Hiệp Châu Âu đưa vào “danh sách đen về thuế” đối với các quốc gia không hợp tác từ ngày 17/02/2026. Vấn đề này sẽ được xem xét lại vào tháng 10 tại Bruxelles. Trước đó, Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) đã cử một phái đoàn tới hỗ trợ Việt Nam đáp ứng các tiêu chí về minh bạch và hợp tác thuế quốc tế. Sẽ phải chờ xem tác động của phái đoàn này. Tuy nhiên, Liên Hiệp Châu Âu không nhất thiết phải tuân theo các khuyến nghị của OECD. Trong bối cảnh đó, Paris đóng vai trò đặc biệt quan trọng đối với Việt Nam. Với vị thế là một trong những quốc gia có ảnh hưởng trong Liên Hiệp Châu Âu, Pháp có thể ủng hộ quan điểm của Hà Nội và vận động để Việt Nam được rút khỏi nhóm 10 nước trong danh sách đen về thuế.
    Đọc thêmLiên Hiệp Châu Âu đưa Việt Nam vào “danh sách đen” thuế vì vấn đề minh bạch
    Điểm thứ hai, việc Việt Nam bị đưa vào danh sách đen có thể là một yếu tố làm phức tạp thêm, gây ảnh hưởng đến tiến trình phê chuẩn Hiệp định Bảo hộ Đầu tư EU-Việt Nam (EVIPA) tại các nước thành viên. Đối với Việt Nam, EVIPA là một ưu tiên chiến lược, thường được Hà Nội nhắc đến, bởi vì hiệp định này nhằm tăng cường bảo đảm pháp lý cho các nhà đầu tư châu Âu, khuyến khích đầu tư vào cơ sở hạ tầng, năng lượng, công nghiệp và công nghệ, phù hợp với những ưu tiên đầy tham vọng mà ông Tô Lâm đang thúc đẩy. Paris cũng chưa phê chuẩn Hiệp định này. Quá trình đã được khởi động và dự kiến sẽ sớm có tiến triển. Việc Pháp sớm phê chuẩn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với Việt Nam.
    Nhìn chung, các ưu tiên của Việt Nam hiện nay tập trung vào hai nội dung chính : Trước hết là các vấn đề tài chính và kinh tế liên quan đến Liên Hiệp Châu Âu ; tiếp đến là các nội dung hợp tác song phương. Những vấn đề gắn với Bruxelles được xem là then chốt để Việt Nam triển khai chương trình phát triển kinh tế đầy tham vọng của ông Tô Lâm.
    RFI : Hà Nội lấy làm tiếc quyết định của Liên Hiệp Châu Âu không phản ánh chính xác những nỗ lực của Việt Nam trong việc tăng cường tính minh bạch của hệ thống thuế. Đồng thời, Việt Nam đã thực hiện nhiều cải cách. Những cải cách đó là gì ? Và liệu chúng có khả năng thuyết phục Bruxelles xem xét lại quyết định trong đợt đánh giá sắp tới không ?
    Benoît de Tréglodé : Tôi không phải là chuyên gia tài chính của OECD hay cơ quan giám sát thuế của Liên Hiệp Châu Âu, nhưng có thể khẳng định rằng việc Bruxelles đưa Việt Nam vào danh sách đen về thuế là một tín hiệu không thuận lợi cho Hà Nội.
    Sau những bất ổn của hệ thống tài chính, từ vụ bê bối Sacombank đầu những năm 2010 đến cuộc khủng hoảng ngân hàng giai đoạn 2011-2012, Việt Nam đã triển khai nhiều chương trình cải cách nhằm nâng cao tính minh bạch và tăng cường mức độ hội nhập của nền kinh tế vào hệ thống quốc tế. Trên thực tế, chính quyền Việt Nam đã thực hiện nhiều cải cách để tái cơ cấu hệ thống ngân hàng, ngăn các tổ chức tài chính gặp khó khăn làm suy yếu toàn bộ hệ thống, tăng cường kiểm soát nợ xấu, củng cố vai trò của Ngân hàng Nhà nước và chấp nhận rộng rãi hơn các chuẩn mực quốc tế như Basel II (về tiêu chuẩn và quy định ngân hàng).
    Đọc thêmEU-Việt Nam vượt bão thuế quan Mỹ qua Hiệp định Thương mại Tự do EVFTA ?
    Tuy nhiên, theo đánh giá của Liên Hiệp Châu Âu, các cam kết cải cách được đưa ra trong thập niên 2010 vẫn chưa được thực hiện đầy đủ, dẫn đến việc Việt Nam bị đưa trở lại vào diện theo dõi và giám sát về thuế trong lần đánh giá tháng 02/2026.
    Dù vậy, khả năng Việt Nam được rút khỏi danh sách này trong thời gian tới là hoàn toàn có cơ sở. Trong bối cảnh đó, tôi nghĩ Hà Nội đang nỗ lực củng cố và bảo vệ vị thế của mình thông qua việc tăng cường quan hệ với một quốc gia thành viên có tầm ảnh hưởng trong Liên Hiệp Châu Âu.
    RFI : Trong trường hợp Liên Hiệp Châu Âu đánh giá những cải cách này là chưa đủ, như nêu ở trên. Và nếu Việt Nam vẫn nằm trong danh sách đen về thuế, điều này sẽ tác động như thế nào đến đất nước trong những năm tới, khi thực hiện mục tiêu tăng trưởng hàng năm ít nhất là 10% ?
    Benoît de Tréglodé : Không thể nói rằng điều này sẽ ngăn cản đầu tư của châu Âu tại Việt Nam, vì đây chỉ là một trong những yếu tố trong quan hệ song phương. Tuy nhiên, việc Việt Nam xuất hiện trong danh sách đen về thuế, với những biện pháp thuế bất lợi, sẽ tác động đến sức hấp dẫn của Việt Nam trong mắt các chính phủ và doanh nghiệp châu Âu.
    Tác động của việc này thể hiện trên nhiều phương diện. Trước hết, các giao dịch tài chính giữa Việt Nam và châu Âu có thể trở nên phức tạp, tốn thời gian hơn do phải trải qua các quy trình kiểm tra, thẩm định nghiêm ngặt hơn. Trong trường hợp phát sinh nghi ngờ, các cơ quan và tổ chức liên quan sẽ phải tiến hành xác minh kỹ hơn về nguồn gốc dòng tiền, hồ sơ thuế… Các thủ tục này sẽ làm gia tăng chi phí cho các doanh nghiệp. Và đây không phải là điều tích cực cho lắm.
    Tác động thứ ba, tôi cho là cũng rất quan trọng, liên quan đến hệ thống ngân hàng Việt Nam. Đây là điều thực sự không cần thiết trong bối cảnh Việt Nam đang theo đuổi chương trình cải cách kinh tế và hiện đại hóa đầy tham vọng dưới sự lãnh đạo của tổng bí thư, chủ tịch nước Tô Lâm. Chẳng hạn, một ngân hàng Pháp cần tài trợ cho doanh nghiệp Việt Nam. Họ không từ chối nhưng bộ phận quản trị rủi ro hoặc tuân thủ có thể yêu cầu áp dụng mức lãi suất cao hơn để bù đắp cho các chi phí và rủi ro phát sinh do Việt Nam nằm trong danh sách không hợp tác về thuế.
    Rủi ro là có nhưng không có nghĩa là sẽ bế tắc. Đối với phái đoàn Việt Nam, đây vẫn là một quan ngại lớn. Và để tăng cường quan hệ đối tác kinh tế với Liên Hiệp Châu Âu, Việt Nam cần phải thoát khỏi danh sách đen này.
    RFI : Như ông đề cập ở trên, Pháp là một thành viên chủ chốt, có ảnh hưởng trong Liên Hiệp Châu Âu. Liệu Việt Nam có thể trông cậy vào sự ủng hộ của Pháp trong đợt đánh giá sắp tới của Liên Âu ?
    Benoît de Tréglodé : Pháp đã thể hiện rất rõ vai trò là một đối tác tin cậy và đồng hành với Việt Nam. Hiệp định EVIPA sẽ sớm được phê chuẩn. Dĩ nhiên tôi không nắm được suy nghĩ của tổng thống Pháp nhưng nhiều khả năng các cuộc gặp từ ngày 09 đến 11/09 sẽ là dịp để Việt Nam đưa ra những trao đổi, hứa hẹn, đổi lại lời hứa của Pháp hỗ trợ Việt Nam vượt qua giai đoạn khó khăn này. Theo tôi, đây là động lực chính của Việt Nam trong chuyến công tác này và đề nghị Pháp giúp đỡ đưa Việt Nam ra khỏi danh sách đen về thuế của Liên Hiệp Châu Âu vào tháng 10 tới.
    Đọc thêmHiệp định Đầu tư Trung–Âu bế tắc: Việt Nam có lợi nếu Liên Âu sớm phê chuẩn EVIPA
    Vấn đề này cũng cần được đặt trong bối cảnh rộng hơn của chiến lược phát triển kinh tế mà ông Tô Lâm đề ra đến năm 2030. Với các mục tiêu tăng trưởng đầy tham vọng, bất kỳ rào cản nào làm suy giảm sức hấp dẫn của môi trường đầu tư hoặc cản trở cho tăng trưởng của Việt Nam, đều là điều không tốt. Bên cạnh đó, một định hướng quan trọng của Việt Nam là đa dạng hóa quan hệ kinh tế đối ngoại nhằm giảm phụ thuộc vào các đối tác lớn như Trung Quốc và Hoa Kỳ. Trong chiến lược này, việc củng cố và mở rộng hợp tác với Liên Hiệp Châu Âu giữ vai trò đặc biệt quan trọng.
    Vì vậy, Việt Nam hiện đang đứng trước hai thách thức lớn. Thứ nhất, bảo đảm rằng Hiệp định EVIPA được các nước thành viên Liên Âu phê chuẩn càng sớm càng tốt, trong đó Pháp có thể đóng vai trò hỗ trợ đáng kể. Thứ hai, Pháp có thể giúp Việt Nam tăng cường minh bạch trong lĩnh vực tài chính và thuế để sớm được đưa ra khỏi danh sách đen của Liên Hiệp Châu Âu.
    RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn giám đốc nghiên cứu Benoît de Tréglodé, Viện Nghiên cứu Chiến lược của Trường Quân sự Pháp (IRSEM).
    (1) Việt Nam hoàn thiện khuôn khổ trao đổi thông tin vì mục đích thuế.
  • Đối tác châu Á giúp Việt Nam tạo thế cân bằng với nhà đầu tư phương Tây

    31/08/2026
    Tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam trong 7 tháng đầu năm 2026 đạt hơn 38 tỷ đô la, tăng 58% so với cùng kỳ năm 2025. Năm nhà đầu tư lớn nhất đều đến từ châu Á : Singapore, Hàn Quốc, Hồng Kông, Trung Quốc, Nhật Bản ; riêng Singapore chiếm 35,6% tổng vốn đăng ký cấp mới (7,5 tỷ đô la).
    Các nhà đầu tư châu Á coi sự ổn định chính trị của Việt Nam là lợi thế, dù nước này có “những hạn chế về nhân quyền” và “chế độ chính trị mang tính chuyên chế”.
    Đó là nhận định của giám đốc nghiên cứu Benoît de Tréglodé, Viện Nghiên cứu Chiến lược của Trường Quân sự Pháp (IRSEM), trong phần trả lời cho câu hỏi “Phải chăng Việt Nam lại đang hướng sang châu Á?” trong cuốn sách Le Việt Nam. Au carrefour d'une nouvelle Asie. En 100 questions (Việt Nam : Giữa ngã ba của một châu Á mới).
    Vẫn theo chuyên gia Pháp, “các nhà lãnh đạo Việt Nam cũng đánh giá cao việc các đối tác không đặt ra những điều kiện này và cảm thấy thoải mái hơn khi hợp tác với những quốc gia có nền văn hóa chính trị tương đồng” (2) trái với các đối tác phương Tây, vẫn thường đặt điều kiện đầu tư với hàng loạt ràng buộc về các quyền và nghĩa vụ. Trong những năm gần đây, “cho dù các nước phương Tây đã tiết chế những phát biểu về nhân quyền nhưng ảnh hưởng của họ vẫn bị suy giảm trước sức mạnh của các nền kinh tế châu Á”.
    Việt Nam đang chuyển hướng sang châu Á? RFI Tiếng Việt phỏng vấn giám đốc nghiên cứu Benoît de Tréglodé.
    RFI : Trong tựa đề cuốn sách, ông nhắc đến “một châu Á mới”. Chính xác thì chúng ta nên hiểu “châu Á mới” này như thế nào trong bối cảnh hiện tại, và Việt Nam đang đứng ở vị trí nào tại ngã ba đường của “châu Á mới” này ?
    Benoît de Tréglodé : Vì sao lại là "Ngã ba đường của một châu Á mới" ? Khi đặt tên cho một cuốn sách, tiêu đề luôn cần có sức tạo ấn tượng mạnh mẽ. Chính vì vậy, nhà xuất bản Tallandier đã lựa chọn tiểu tựa đề "Ở ngã ba của một châu Á mới". Châu Á đang chuyển mình mạnh mẽ từng ngày, và hình ảnh "ngã ba đường" phản ánh cách nhìn về vị thế của Việt Nam trong bối cảnh đó.
    Thoạt nghe, đây có thể là một cách diễn đạt khá khái quát, nhưng lại hàm chứa nhiều ý nghĩa. Trong một thời gian dài, các đối tác chủ yếu của Việt Nam là những cường quốc phương Tây ở xa : trước hết là Pháp trong thời kỳ thuộc địa, rồi đến Liên Xô và Hoa Kỳ trong thời kỳ Chiến tranh Việt Nam… Chỉ đến khi gia nhập Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Việt Nam mới thực sự tái khám phá bản sắc và không gian châu Á của mình. Từ đó, Hà Nội dần nhận ra rằng việc thu hút dòng vốn đầu tư nước ngoài và mở rộng hợp tác kinh tế với các nền kinh tế năng động, đang lên của Đông Á là chìa khóa để đa dạng hóa các mối quan hệ đối ngoại và tạo thế cân bằng về địa-chính trị.
    Các nhà lãnh đạo Việt Nam nhanh chóng hiểu rằng cách tiếp cận dựa trên địa-kinh tế này có thể giúp đất nước tránh bị cuốn vào thế đối đầu giữa hai cường quốc : một bên là Trung Quốc - đối tác chính trị, kinh tế và chiến lược có ảnh hưởng sâu rộng và bên kia là Hoa Kỳ - quốc gia mà Việt Nam cũng phụ thuộc rất lớn về kinh tế.
    Vì vậy, đây cũng là cách để cân bằng tất cả các mối quan hệ với thế giới bằng cách mở cửa nền kinh tế cho các quốc gia và nền kinh tế khác. Điều này cho thấy Việt Nam không phụ thuộc vào một quốc gia duy nhất. Việt Nam có khả năng cân bằng lại các mối quan hệ kinh tế và do đó có thể ứng phó với những sức ép hoặc đòi hỏi quá mức từ các đối tác lớn.
    RFI : Ông vừa đề cập là Việt Nam hướng trở lại châu Á. Vậy sự tập trung trở lại vào châu Á này sẽ có ý nghĩa gì đối với Việt Nam ?
    Benoît de Tréglodé : Bởi vì, như tôi vừa đề cập, Việt Nam đang theo đuổi một chiến lược cân bằng rất rõ ràng. Điều đó được thể hiện qua hình ảnh một thủ tướng được cộng đồng doanh nghiệp quốc tế đánh giá cao như ông Lê Minh Hưng, người luôn chủ động chào đón và khuyến khích các nhà đầu tư từ Hàn Quốc, Nhật Bản, Singapore cũng như Hoa Kỳ.
    Hoa Kỳ hiện là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, chiếm khoảng 25% tổng kim ngạch xuất khẩu, và là một đối tác có ý nghĩa đặc biệt đối với nền kinh tế Việt Nam. Tuy nhiên, giữa hai nước vẫn tồn tại một số bất đồng khiến Hà Nội chưa thể coi quan hệ kinh tế với Washington là hoàn toàn không có rủi ro.
    Chẳng hạn, Hoa Kỳ gần đây đã đưa ra mức cảnh báo cao đối với Việt Nam trong báo cáo thường niên về bảo vệ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ. Điều này có thể dẫn đến các cuộc điều tra sâu hơn và kéo theo nguy cơ Washington áp dụng các biện pháp trừng phạt thương mại. Bên cạnh đó, phía Hoa Kỳ cũng nhiều lần bày tỏ quan ngại về tình trạng lao động cưỡng bức tại Việt Nam, trong khi bộ Ngoại Giao Việt Nam bác bỏ các cáo buộc này. Có thể thấy, quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và Hoa Kỳ vẫn phát triển mạnh mẽ nhưng đồng thời cũng chịu tác động bởi những bất đồng nhỏ phản ánh tính chất đặc biệt của một quan hệ song phương được định hình bởi lịch sử và vì thế vẫn luôn chứa đựng những yếu tố nhạy cảm.
    Trong khi đó, các đối tác ở ASEAN và Đông Á lại mở ra cho Việt Nam những cơ hội rất lớn. Các doanh nghiệp trong khu vực hiện sở hữu năng lực cạnh tranh công nghệ ngày càng cao, cung cấp nhiều sản phẩm có thể cạnh tranh trực tiếp với các tập đoàn phương Tây, không chỉ về chất lượng mà còn về giá cả. Quan trọng hơn, cách thức hợp tác và văn hóa kinh doanh của các đối tác châu Á thường gần gũi với môi trường kinh doanh của Việt Nam hơn, giúp quá trình hợp tác diễn ra thuận lợi và thực dụng hơn.
    Thực tế, trong những năm gần đây, có thể thấy làn sóng đầu tư mạnh mẽ từ các nền kinh tế châu Á vào Việt Nam. Các nhà đầu tư này chủ yếu tập trung vào hoạt động kinh doanh, không chỉ trích bất cứ điều gì, ít gắn các quyết định đầu tư với những điều kiện hay yêu cầu mang tính chính trị.
    Đối với các nhà lãnh đạo Việt Nam, sự đa dạng hóa các đối tác kinh tế còn mang một ý nghĩa chiến lược sâu sắc. Nó cho phép Việt Nam gửi đi một thông điệp rõ ràng tới các đối tác truyền thống : "Hãy nhìn xem, chúng tôi không phụ thuộc vào bất kỳ ai. Chúng tôi có thể có thể vận hành cỗ máy mà không nhất thiết cần các vị. Chúng tôi phát triển cùng nhiều đối tác khác, từ nhiều thị trường và nhiều nhà đầu tư khác nhau".
    Nói cách khác, tự chủ kinh tế không chỉ là một mục tiêu phát triển, mà còn là nền tảng để xây dựng tự chủ chiến lược. Đó là giấc mơ trường tồn của giới cầm quyền Việt Nam.
    RFI : Năm câu hỏi cuối cùng liên quan đến Việt Nam và Pháp : Liệu hai đất nước có “một tương lai chung” không ?
    Benoît de Tréglodé : Đó là một câu hỏi không dễ trả lời. Đúng là phần cuối cuốn sách do Nhà xuất bản Tallandier phát hành được dành để phân tích quan hệ giữa Pháp và Việt Nam. Đây cũng là một khuôn khổ chung mà các tác giả trong bộ sách đều phải tuân thủ.
    Nhưng nếu nhìn vào thực tế, quan hệ giữa hai nước ngày nay đã thay đổi rất nhiều so với ba thập niên trước. Sẽ không khách quan nếu không thừa nhận điều đó. Tại Pháp, cả giới chính trị lẫn dư luận vẫn chịu ảnh hưởng khá sâu sắc của ý niệm về "một thế kỷ lịch sử chung" giữa hai nước. Tuy nhiên, từ góc nhìn của Việt Nam, giai đoạn ấy trước hết là thời kỳ thực dân Pháp cai trị. Việt Nam không đánh giá cao "Phần lịch sử chung" này.
    Pháp đã chuyển từ quan niệm lịch sử đó sang hướng thực dụng hơn. Pháp cũng đang thấy ảnh hưởng suy yếu dần tại Việt Nam. Điều này thể hiện rất rõ trên phương diện kinh tế. Vào đầu và giữa những năm 1990, các công ty Pháp từng nắm giữ gần 6% thị phần; ngày nay, con số này chỉ còn khoảng 0,4% đến 0,5% thị phần trong nước do sự bùng nổ của cạnh tranh quốc tế và sự năng động cực độ của các doanh nghiệp châu Á. Song song đó, cộng đồng Pháp ngữ cũng đã suy yếu đáng kể ở Việt Nam nói riêng và trên toàn thế giới nói chung.
    Nhìn tổng thể, dù xét trên phương diện kinh tế, văn hóa hay chính trị, ảnh hưởng của Pháp tại Việt Nam đều đã suy giảm đáng kể. Đây là thực tế cần được nhìn nhận, đồng thời cũng là yếu tố đầu tiên giúp lý giải sự thay đổi trong quan hệ giữa hai nước.
    Về phía Việt Nam, cách tiếp cận cũng mang tính thực dụng không kém. Hà Nội ưu tiên hợp tác với những đối tác đáp ứng tốt nhất các mục tiêu phát triển của mình. Trong bối cảnh hiện nay, nhiều nền kinh tế châu Á có khả năng đáp ứng hiệu quả hơn nhu cầu của Việt Nam về đầu tư, công nghệ, công nghiệp và tiêu dùng của tầng lớp trung lưu đang gia tăng. Đồng thời, họ cũng phù hợp hơn với những tính toán về địa kinh tế và chuỗi cung ứng trong khu vực.
    Chính sự thay đổi trong các ưu tiên phát triển của Việt Nam, cùng với sự cạnh tranh ngày càng quyết liệt từ các đối tác châu Á, đã góp phần làm giảm vai trò và ảnh hưởng của Pháp tại Việt Nam trong những năm gần đây.
    RFI Tiếng Việt chân thành cảm ơn giám đốc nghiên cứu Benoît de Tréglodé, Viện Nghiên cứu Chiến lược của Trường Quân sự Pháp (IRSEM).
  • Trung tâm CIRAD của Pháp hỗ trợ chuyển đổi nông nghiệp sinh thái ở miền bắc Việt Nam

    24/08/2026
    Hội nghị lần thứ 17 của Liên Hiệp Quốc (COP17) về Chống Sa mạc hóa đang diễn ra từ ngày 17 đến 28/08/2026 tại Ulan Bator, thủ đô của Mông Cổ. Hội nghị quy tụ 197 quốc gia và tổ chức khu vực nhằm giải quyết vấn đề phục hồi đất đai và chống hạn hán. COP17 về Chống sa mạc hóa diễn ra trong khuôn khổ Năm Quốc tế về Đồng cỏ và Chăn nuôi Du mục.
    Đồng cỏ là những vùng đất tự nhiên rộng lớn, không canh tác, chủ yếu được sử dụng để chăn thả gia súc, bao phủ hơn một nửa diện tích đất liền của Trái Đất và trực tiếp hỗ trợ sinh kế cho khoảng 500 triệu người. Chăn nuôi du mục hay chăn thả tự do cũng là một vấn đề trọng tâm tại hội nghị COP lần này. Đây là phương thức chăn nuôi quảng canh, dựa vào việc gia súc ăn cỏ tự nhiên trên đồng cỏ và thường có đặc điểm là tính di động của người chăn nuôi và đàn gia súc.
    Do 2026 là Năm Quốc tế Du mục, cho nên tại Triển lãm Nông nghiệp Quốc tế Paris ( 27/02 - 07/03/2026 ), Trung tâm Hợp tác Quốc tế về Nghiên cứu Nông nghiệp vì Sự Phát triển ( CIRAD ) của Pháp cùng với Cơ quan Phát triển Pháp ( AFD ) đã chọn chăn nuôi du mục là chủ đề chính, nhằm quảng bá rộng rãi hơn một hình thức chăn nuôi còn rất phổ biến ở nhiều nước, trong đó có cả Việt Nam, nhưng cho tới nay ít được giới nghiên cứu và các chính quyền để ý đến. 
    Trả lời RFI Việt ngữ tại Triển lãm Nông nghiệp, kỹ sư nông học Guillaume Duteurtre, nhà nghiên cứu tại trung tâm CIRAD, cho biết :  
    “Năm quốc tế này là cơ hội để giới thiệu những gì chúng tôi đang làm trong lĩnh vực này cho CIRAD và AFD, và đặc biệt là tham gia vào các hoạt động vận động, chiến dịch nâng cao nhận thức và các sự kiện giúp thúc đẩy phát triển chăn nuôi du mục ở các quốc gia mà chúng tôi hoạt động. 
    Trên hành tinh của chúng ta, chăn thả du mục hiện diện ở mọi vĩ độ. Từ các vĩ độ phía bắc với việc chăn nuôi tuần lộc, đến các vĩ độ nhiệt đới và thậm chí cả xích đạo với chăn nuôi gia súc, tức là ở vùng thảo nguyên. Đó là một hệ thống chăn nuôi gia súc và một lối sống của khoảng 500 triệu người trên toàn thế giới, dựa trên việc sử dụng thảm thực vật tự nhiên. 
    Chủ yếu đó là chăn nuôi gia súc, động vật nhai lại, nhưng cũng bao gồm cả chăn nuôi lạc đà, và đôi khi cả ngựa nữa, như ở Mông Cổ, nơi mà ngựa có vai trò rất quan trọng. Đó là một hệ thống giúp cho nhiều cộng đồng kiếm sống từ hoạt động thường được liên kết với nông nghiệp. Chăn thả kết hợp với nông nghiệp cũng là một hệ thống cho phép sử dụng bền vững các khu vực rừng nơi động vật được chăn thả. Trong ngành chăn thả kết hợp lâm nghiệp ( sylviopastoralisme ), chúng ta cũng có thể sử dụng các sản phẩm từ rừng. 
    Ở châu Âu, rõ ràng đây là một hệ thống quan trọng, đặc biệt là ở các vùng núi. Nhưng ở các quốc gia nhiệt đới mà CIRAD hoạt động, đây là một hệ thống có tính cấu trúc đặc biệt đối với các vùng lãnh thổ. Người ta ước tính rằng, trên toàn thế giới, đồng cỏ – những vùng đất rộng lớn với thảm thực vật tự nhiên – chiếm khoảng 45% diện tích đất liền của Trái đất. Đây là những vùng lãnh thổ khổng lồ.”  
    Ngành chăn nuôi du mục hiện đang phải đối mặt với những thách thức nào do tác động của biến đổi khí hậu, vốn đang ngày càng làm giảm diện tích đất có thảm thực vật? Kỹ sư Guillaume Duteurtre giải thích :
    “Tác động của biến đổi khí hậu khác nhau tùy thuộc vào từng khu vực. Những gì đang xảy ra ở Siberia không giống với những gì đang xảy ra ngay giữa vùng Sahel ( Châu Phi ). Vì vậy, phải tính đến bối cảnh địa phương. Ví dụ chúng tôi đã thực hiện rất nhiều nghiên cứu ở Tây Phi và vùng Sahel. Chúng tôi nhận thấy lượng mưa đang tăng lên do biến đổi khí hậu, nhưng được phân bổ không đồng nhất giữa các mùa và trong suốt các năm. Do đó, các hệ thống này đang chịu áp lực do sự bất thường này. 
    Chúng tôi cũng nhận thấy nhiệt độ đang tăng lên ở khu vực Sahel. Điều này gây thêm áp lực lên vật nuôi. Do lượng mưa đang tăng lên và được phân bổ không đều, cho nên đã xảy ra một số trận lũ lụt và các hiện tượng thời tiết cực đoan, dẫn đến cái chết của động vật. Ví dụ, trong mùa mưa vừa qua ở Sahel, đã có nhiều động vật bị chết đuối. 
    Đó là bối cảnh khí hậu chung. Vì vậy, khó khăn nằm ở việc thích ứng với những thay đổi này, đồng thời cũng thích ứng với những thay đổi khác. Thay đổi lớn đầu tiên tất nhiên là sự gia tăng diện tích đất canh tác và sự gia tăng số lượng động vật. Với sự gia tăng dân số, áp lực từ thị trường thịt và sữa, thế giới ngày càng có nhiều động vật hơn, trong khi không gian sống ngày càng ít hơn. Vì vậy, đó là hạn chế đầu tiên: có sự căng thẳng cả về đồng cỏ chăn thả và đường đi của động vật, hành lang tiếp cận sông ngòi, nguồn nước uống, hành lang tiếp cận khu vực trú ẩn, v.v. Và hiện nay còn có một sự thay đổi lớn khác đang diễn ra: Trong khuôn khổ Công ước Liên Hiệp Quốc về Đa dạng sinh học, các quốc gia cam kết sẽ tăng diện tích các khu bảo tồn, các khu vực bảo vệ thiên nhiên.” 
    Riêng ở Việt Nam hiện nay, chăn thả tự do vẫn là một trong 3 phương thức chăn nuôi phổ biến cùng với chăn nuôi bán công nghiệp và chăn nuôi theo kiểu công nghiệp. Phương thức chăn thả tự do có những lợi thế, như tận dụng được nguồn thức ăn tự nhiên, phụ phẩm nông nghiệp, vật nuôi cho chất lượng thịt săn chắc, thơm ngon, nhưng phương thức này lại có nhược điểm là phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên, quy mô nuôi đàn chỉ ở mức vừa phải, và nhất là khó kiểm soát dịch bệnh.
    Vấn đề đang được đặt ra đối với những vùng vẫn còn tồn tại phương thức chăn thả như ở tỉnh Điện Biên ở miền bắc Việt Nam, đó là phải làm sao giảm thiểu xung đột giữa phương thức chăn nuôi này với việc bảo tồn đa dạng sinh học. Trung tâm CIRAD đã có những hoạt động để hỗ trợ nông dân vùng núi miền bắc Việt Nam chuyển từ chăn thả tự nhiên sang canh tác sinh thái và chăn nuôi, theo lời kỹ sư Guillaume Duteurtre :
    “Trung tâm CIRAD đã làm việc từ nhiều năm qua ở Việt Nam, đặc biệt là các vùng núi phía Bắc, về hệ thống canh tác sinh thái và chăn nuôi, mà theo truyền thống thường được tích hợp cao, với một ít ruộng lúa, một vài cây ăn quả, một số ao hồ và một đàn gia súc nhỏ như dê hoặc bò. Trong lĩnh vực này, chúng tôi đang hợp tác với các tổ chức nghiên cứu của Việt Nam và bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn để khuyến khích các hệ thống nông nghiệp sinh thái và thúc đẩy các phương pháp quản lý môi trường để sản xuất nhưng vẫn tôn trọng môi trường. 
    Có những thách thức đáng kể liên quan đến tình trạng xói mòn sườn dốc ở khu vực phía Bắc Việt Nam này, do việc chuyên canh cây trồng, đặc biệt là ngô và sắn. Do đó, chúng tôi đang làm việc với tất cả các đối tác về các hệ thống canh tác và chăn nuôi tích hợp để sản xuất ngô và sắn đồng thời bao gồm cả chăn nuôi. Vì vậy, lợi thế của việc chăn nuôi gia súc ở khu vực này là có thể tận dụng được diện tích rừng, rất rộng lớn do các quy định rất nghiêm ngặt về bảo tồn rừng cộng đồng và rừng sản xuất. Gia súc có thể giúp nâng cao giá trị của các khu vực rừng này khi được chăn thả, bởi vì chúng không chỉ ăn cỏ mà còn ăn rất nhiều lá cây. Và trên hết, chúng tôi sẽ cố gắng thúc đẩy việc sử dụng phân chuồng để duy trì độ phì nhiêu của đất tại các vườn cây ăn quả và các khu rừng trồng để bán. 
    Đó là một quan hệ đối tác rất tốt và chúng tôi đang cố gắng đo lường lợi ích môi trường của các hệ thống nông nghiệp và chăn nuôi tích hợp này, vốn đã rất quen thuộc với thế hệ những người lớn tuổi trong cộng đồng, ít nhất là những người lớn tuổi trong khu vực đó. Chúng tôi đang so sánh những lợi ích môi trường này với lợi ích kinh tế để giúp ra quyết định về các chính sách phát triển.” 
    Trong khuôn khổ các hoạt động ở Việt Nam, trung tâm CIRAD đã tham gia vào Dự án Chuyển đổi hệ thống Nông nghiệp sinh thái và Thực phẩm an toàn (ASSET), tại 2 tỉnh Sơn La và Điện Biên,  từ năm 2021. Với tài trợ của Cơ quan Phát triển Pháp (AFD), Liên Hiệp Châu Âu (EU) và Quỹ Môi trường toàn cầu của Pháp (FFEM), dự án ASSET hướng tới mục tiêu thúc đẩy hệ thống nông nghiệp sinh thái, nâng cao an toàn thực phẩm và phát triển sinh kế bền vững. Kỹ sư Guillaume Duteurtre cho biết :
    “Chúng tôi làm việc trước hết với chính quyền địa phương, những người đảm trách việc hỗ trợ sự phát triển này và rất nhiệt tình tham gia vào các cơ chế tham gia, trong đó chúng tôi thảo luận với đại diện của nông dân để xác định phương pháp tiếp cận tốt nhất cho từng khu vực. Chúng tôi cũng hợp tác với lãnh đạo các tổ chức quần chúng, vốn được tổ chức rất chặt chẽ ở Việt Nam, đại diện cho nông dân, gia đình họ và các hội phụ nữ, để cố gắng nâng cao nhận thức trong cộng đồng về các hệ thống này, đôi khi phức tạp hơn hệ thống chuyên canh, độc canh, nhưng về lâu dài lại bền vững và có khả năng chống chịu tốt hơn nhiều. 
    Chúng tôi có một số kinh nghiệm rất tốt về dự báo, tức là các kịch bản tương lai mà chúng tôi cố gắng phát triển tại địa phương ở cấp xã với các cộng đồng cư dân này để dự trù trong những năm nào chúng ta sẽ chuyên canh cây mắc ca, liệu chúng ta có thúc đẩy chăn thả gia súc trong vườn mắc ca hay không, liệu chúng ta có khuyến khích sản xuất thịt khô để thúc đẩy ngành chăn nuôi bò zebu hoặc lợn hay không, v.v. Đây là những kinh nghiệm về đổi mới thông qua hợp tác, một cách thức nghiên cứu mới đối với chúng tôi cùng với các đồng nghiệp nghiên cứu của Việt Nam. 
    Chúng tôi vừa mới hoàn thành một dự án rất lớn, kéo dài 5 năm do Liên Hiệp Châu Âu tài trợ, tại khu vực Điện Biên, nơi chúng tôi đã hợp tác rộng rãi với nhiều sắc tộc thiểu số trong khu vực. Hiện tại chúng tôi đang xem xét các dự án nhằm thúc đẩy nền kinh tế tuần hoàn, tức là tái chế sinh khối thông qua các hệ thống canh tác hỗn hợp. Vì vậy, hiện tại chúng tôi đang xây dựng một dự án lớn với nhiều đối tác về kinh tế tuần hoàn, đây là một cách tiếp cận khác biệt hơn đối với phát triển nông nghiệp hiện nay, đặc biệt là ở những vùng lãnh thổ dễ bị tổn thương này.”
    Vào tháng 10 năm ngoái, trung tâm CIRAD cùng với Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam và Tổ chức GRET Viện đã tổ chức hội thảo để tổng kết việc thực hiện dự án ASSET tại Điện Biên. Các bên đánh giá dự án này đã đạt những kết quả tích cực đó là làm thay đổi phương thức sản xuất từ chăn thả, bán chăn thả sang chăn nuôi có quản lý, kiểm soát.
  • Biên phòng, cảnh sát biển Việt Nam: Hai lực lượng đi đầu trong mở rộng ngoại giao quốc phòng với Úc

    17/08/2026
    Việt Nam và Úc công bố ba tuyên bố chung khi kết thúc chuyến thăm cấp Nhà nước tới Úc của chủ tịch nước Tô Lâm từ ngày 09 đến 12/08/2026. Hai nhà lãnh đạo coi đây là minh chứng cho “sự tương đồng ngày càng lớn về lợi ích chiến lược”. Còn giới quan sát đánh giá sự kiện này là “chưa từng có tiền lệ”. Về hợp tác quốc phòng, hai nước đã trao đổi ba văn kiện hợp tác về tìm kiếm cứu nạn, biên phòng và cảnh sát biển.
    Trong một bài viết trên trang The Diplomat, tiến sĩ Nguyễn Hồng Hải nhận thấy "điểm đáng chú ý, các tuyên bố chung cho thấy Việt Nam đang thể hiện tự tin hơn khi đề cập đến "Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương" như một cấu trúc khu vực", thay vì "thận trọng" như trước đây. Điều này cho thấy "Việt Nam đang khẳng định vị thế vững chắc hơn trong cấu trúc khu vực rộng lớn này, thay vì coi đây là khái niệm chủ yếu thuộc về các bên khác".
    Để hiểu hơn về quá trình hợp tác an ninh và quốc phòng giữa Việt Nam và Úc, RFI Tiếng Việt phỏng vấn tiến sĩ Nguyễn Thế Phương, chuyên ngành an ninh hàng hải và các vấn đề hải quân, Đại học New South Wales, Úc.
    RFI : Úc và Việt Nam có mối quan hệ hợp tác quốc phòng từ khá lâu, hai nước hợp tác trong những lĩnh vực nào ?
    Nguyễn Thế Phương : Nhìn lại lịch sử hợp tác, quan hệ hợp tác quốc phòng Việt được đặt móng từ Bản ghi nhớ Hợp tác Quốc phòng năm 2010, cũng là 16 năm rồi. Và 8 năm sau đó, năm 2018 là Tuyên bố Tầm nhìn chung.
    Từ đó tới nay, quan hệ quốc phòng Việt-Úc tập trung vào một số mảng sau đây. Thứ nhất là đào tạo và huấn luyện. Đây là một trụ cột nền tảng. Rất nhiều học viên, sĩ quan Việt Nam đang học ở Học Viện Quốc Phòng Úc, không chỉ ở thủ đô Canberra, mà còn ở những cơ sở huấn luyện quốc phòng khác, nhưng tập trung chủ yếu ở Học Viện Quốc Phòng Úc. Úc là một trong những quốc gia cung cấp rất nhiều học bổng đào tạo ngoại ngữ, cụ thể là tiếng Anh chuyên ngành quân sự và quản lý quân sự chuyên sâu cho các cán bộ sĩ quan quân đội Việt Nam.
    Ở chiều ngược lại, Úc họ cũng cử quân nhân sang Việt Nam học tiếng Việt và tham gia một số các khóa đào tạo về quốc phòng tại Học Viện Quốc Phòng ở Việt Nam. Trong quá trình hội nhập quốc tế, nếu so sánh các đối tác quốc phòng, ngoài Mỹ, cứ cho rằng Úc thuộc phương Tây, thì Úc hỗ trợ Việt Nam gần như là nhiều nhất, nhiều khi hơn cả Pháp. Đây là điểm trụ cột nền tảng trong quan hệ quốc phòng Việt-Úc trong khoảng 10 năm qua.
    Đọc thêmViệt Nam - Úc : Mối quan hệ “thực chất” dựa trên “niềm tin chính trị”
    Điểm thứ hai, một trong những điểm rất nổi bật, là hợp tác trong mảng gìn giữ hòa bình Liên Hiệp Quốc. Úc hỗ trợ toàn diện cho Việt Nam từ vấn đề kỹ thuật, huấn luyện lực lượng cho đến logistic. Hầu như tất cả các lực lượng Việt Nam qua châu Phi để tiến hành các hoạt động gìn giữ hòa bình đều được vận chuyển bằng máy bay vận tải hàng nặng C17 Globemaster của Úc. Từ con người, trang thiết bị cho tới những vấn đề hầu cần từ châu Á tới châu Phi là Úc hỗ trợ Việt Nam cái mảng này, hầu như là duy nhất luôn.
    Mảng thứ ba cũng cần được nhắc tới là khắc phục hậu quả chiến tranh. Úc hỗ trợ chia sẻ dữ liệu, kỷ vật chiến tranh, công tác bản đồ để phục vụ cho quá trình rà phá bom mìn và tìm kiếm liệt sĩ Việt Nam mất tích trong chiến tranh.
    Và vấn đề được làm một cách thường xuyên, liên tục năm này qua năm khác, chính là tham vấn chính trị quốc phòng cả song phương lẫn đa phương, ví dụ đối thoại chính sách quốc phòng song phương Việt Nam và Úc trước đây thường là cấp thứ trưởng và phối hợp trên các diễn đàn khu vực, ví dụ Diễn đàn bộ trưởng Quốc Phòng ASEAN mở rộng ADMM+.
    Đó là bốn lĩnh vực hợp tác quốc phòng Việt-Úc đã tiến hành trong vòng 10 năm qua.
    RFI : Kế từ khi hai nước nâng cấp quan hệ lên mức cao nhất - Đối tác Chiến lược toàn diện - mối quan hệ này được phát triển như thế nào và mở rộng ra những lĩnh vực nào ? 
    Nguyễn Thế Phương : Khi Việt Nam và Úc nâng cấp lên Đối tác Chiến lược Toàn diện từ tháng 03/2024, điểm được mở rộng hợp tác là thỏa thuận gìn giữ hòa bình, trong giai đoạn hợp tác mới thì sẽ không đơn lẻ mà sẽ mở rộng ra rất nhiều lĩnh vực khác nhau. Trước đây lực lượng gìn giữ hòa bình Việt Nam tham gia vào hai mảng : quân y và công binh. Đây vốn là hai mảng phi tác chiến và Việt Nam, từ hồi chiến tranh tới giờ, có rất nhiều kinh nghiệm và khả năng thực hiện một cách tốt nhất.
    Từ 2024 tới nay, Việt Nam và Úc sẽ mở rộng lĩnh vực đó, không chỉ công binh, y tế mà còn cả cảnh sát. Tức là công an Việt Nam tham gia vào gìn giữ hòa bình. Úc cũng sẽ tham gia vào quá trình huấn luyện lực lượng đó. Hợp tác quân chủng giữa hai bên cũng được mở rộng, gia tăng hoạt động giao lưu trao đổi kinh nghiệm cụ thể, phòng không, không quân, đặc biệt là biên phòng và cảnh sát biển. Bởi vì Việt Nam ưu tiên sử dụng những lực lượng phi tác chiến trong bối cảnh mở rộng ngoại giao quốc phòng, trong đó biên phòng và cảnh sát biển là hai lực lượng có thể đi đầu trong mảng này. Ngoài ra, Việt Nam còn mở rộng tham gia vào một số cuộc tập trận đa phương mà Úc tham gia.
    Đọc thêmNhững kỳ vọng về quan hệ "Đối tác chiến lược toàn diện" giữa Việt Nam và Úc
    Và cuối cùng là mở rộng sang lĩnh vực an ninh phi truyền thống, ví dụ an ninh hàng hải và thúc đẩy luật pháp quốc tế, tôn trọng UNCLOS 1982, tăng cường nhận thức hàng hải ở Biển Đông, tăng cường hợp tác trong việc thực thi pháp luật trên biển giữa cảnh sát Việt Nam và Úc, có thể cải thiện an ninh mạng và công nghiệp quốc phòng. Đây là một mảng mới tại vì thật ra công nghiệp quốc phòng Úc, tính đến thời điểm hiện tại cũng không nổi bật lắm so với một số nước phát triển khác như Ấn Độ, nhưng vẫn có những điểm mà hai bên có thể hợp tác được. Tiếp theo là phòng chống tội phạm xuyên quốc gia và an ninh biên giới cũng được hai bên đẩy mạnh. Và cuối cùng là cứu hộ cứu nạn vì biến đổi khí hậu. Trong khoảng thời gian gần đây, hai bên tăng cường hợp tác mảng này, chia sẻ thông tin, kinh nghiệm, cải thiện năng lực cứu hộ cứu nạn cho cả hai nước.
    RFI : Nhân chuyến công du nước Úc của ông Tô Lâm, hai nước cũng đã ký biên bản ghi nhớ về hợp tác thực thi pháp luật hàng hải, tăng cường hợp tác quân sự. Vậy trong thời gian tới, sự hợp tác này sẽ được phát triển theo những hướng nào ? 
    Nguyễn Thế Phương : Hai nước đã trao đổi các văn kiện hợp tác quan trọng, nhất là một biên bản ghi nhớ - MOU về hợp tác thực thi pháp luật trên biển giữa cảnh sát biển và biên phòng Việt Nam với lại lực lượng quản lý biên giới Úc.
    Thứ hai là tuyên bố tầm nhìn chung về hợp tác quốc phòng cập nhật, xác lập một bước phát triển nguyên tính bản lề về định hướng quốc phòng giữa Việt Nam và Úc trong thời gian tới. Ở đây sẽ có một số điểm như sau.
    Thứ nhất là nâng cấp năng lực và thực thi pháp luật hàng hải. Trọng tâm sẽ là tăng cường những hoạt động giao lưu giữa hai bên, và đặc biệt là chia sẻ về khả năng hợp tác tác chiến và vận hành giữa lực lượng cảnh sát biển, biên phòng Việt Nam và lực lượng quản lý biên giới Úc, chia sẻ thông tin tình báo hàng hải, phối hợp tuần tra chống đánh bắt cá trái phép và đặc biệt là xử lý di dân bất hợp pháp. Cụ thể, Úc sẽ hỗ trợ Việt Nam nâng cao năng lực giám sát không gian biển, thông qua các chương trình trong khuôn khổ đối tác hàng hải Úc và Đông Nam Á. Và Úc cũng sẽ giúp cho Việt Nam giám sát tốt hơn các hoạt động ở vùng biển tranh chấp trên cơ sở tuân thủ luật pháp quốc tế.
    Đọc thêmHợp tác an ninh hàng hải giữa Úc với Việt Nam sẽ “không phô trương” như với Philippines
    Điểm thứ hai là cứu hộ cứu nạn và hỗ trợ thảm họa, cũng sẽ được đẩy mạnh trong tương lai, liên quan tới hoạt động huấn luyện và diễn tập chung. Tại sao điểm này là điểm khá quan trọng ? Bởi vì quân đội Việt Nam và quân đội Úc cũng sẽ mở rộng quy mô các cuộc diễn tập đa phương và tương tác giữa các quân binh chủng. Trong tương lai, Việt Nam sẽ tiếp tục mở rộng tham gia vào các cuộc diễn tập do Úc chủ trì. Ví dụ cuộc diễn tập Hải Quân đa phương Kakadu, Việt Nam đã tham gia trong hai năm 2024, 2026. Việt Nam cũng sẽ tiếp tục cử quan sát viên tới cuộc diễn tập Talisman Sabre. Trong tương lai, tần suất cũng như là nội dung tham gia sẽ được mở rộng ra thêm. Và tương tác quân binh chủng cũng sẽ tập trung chuyên sâu vào các mảng mà hai bên có thế mạnh, ví dụ như quân y, công binh và chống khủng bố.
    Ngoài ra, còn có một mảng là phòng chống tội phạm xuyên quốc gia và an ninh phi truyền thống thì sẽ tập trung vào phòng chống tội phạm mạng và lừa đảo trực tuyến, an ninh biên giới. Bộ Quốc Phòng, bộ Công An Việt Nam sẽ hợp tác với bộ Nội Vụ và Cảnh sát Úc trong chống buôn lậu, rửa tiền, ma túy.
    Tóm lại, hướng đi tương lai của hợp tác quốc phòng Việt-Úc sẽ bám sát vào tinh thần của quan hệ đối tác chiến lược toàn diện giữa hai bên. Và ở đây, Việt Nam nhấn mạnh tới điểm là không hướng tới “liên minh quân sự” chống lại bên thứ ba và hợp tác là nhằm nâng cao năng lực tự chủ của cả hai bên và đóng góp vào ổn định và hòa bình của toàn bộ khu vực Ấn Độ-Thái Bình Dương.
    RFI : Giới chuyên gia và truyền thông phương Tây đều nhắc đến Trung Quốc và Hoa Kỳ trong sự gia tăng hợp tác an ninh giữa Úc và Việt Nam cho dù không trực tiếp nêu tên. Mỹ và Trung Quốc đóng vai trò như thế nào trong chiến lược tăng cường hợp tác giữa Úc và Việt Nam ?  
    Nguyễn Thế Phương : Cả hai nước đều là hai nước lớn. Và quá trình cạnh tranh hợp tác giữa Mỹ và Trung Quốc ở khu vực Ấn Độ-Thái Bình Dương luôn là một yếu tố cấu trúc nền tảng trong bất kỳ mối quan hệ an ninh quốc phòng nào, không chỉ của Việt Nam và Úc mà còn của tất cả cặp song phương khác ở khu vực Ấn Độ-Thái Bình Dương.
    Ở đây, Trung Quốc là yếu tố tạm gọi là “động lực thúc đẩy chính” cho quan hệ Việt-Úc, thì Trung Quốc tạo nên “đồng quy chiến lược” giữa Việt Nam và Úc. Cả Úc và Việt Nam đều là những quốc gia phụ thuộc vào các tuyến đường hàng hải thông qua biển, ở đây là Biển Đông. Và sự gia tăng độ hung hăng của Trung Quốc ở Biển Đông làm cho cả hai bên lo ngại về nguy cơ luật pháp quốc tế bị xói mòn, tạo ra một xung đột không đáng có ở khu vực có tầm quan trọng với giao thương quốc tế là rất cao. Hợp tác an ninh hải sẽ giúp cả Việt Nam và Úc nâng cao năng lực giám sát, cũng như là thực thi pháp luật trên biển.
    Thứ hai là yếu tố gọi là hedging - phòng ngừa rủi ro. Đối với Úc, họ mong muốn mở rộng quan hệ mạng lưới an ninh với các quốc gia tầm trung ở Đông Nam Á mà Việt Nam là một trong những quốc gia tầm trung quan trọng nhất ở Đông Nam Á. Đối với Việt Nam, tăng cường quan hệ với Úc sẽ giúp Việt Nam đa dạng hóa đối tác và nâng cao năng lực tự chủ quốc phòng mà không tạo ra đối đầu trực tiếp với Bắc Kinh. Điểm này được Việt Nam gọi là “cân bằng mềm”. Tăng cường hợp tác với Úc, ở đây không nói về Mỹ, để tạo một tấm đệm để Việt Nam đa dạng hóa nguồn lực.
    Và cuối cùng, điểm này tương đối mới ở thời điểm hiện tại, đó là giảm thiểu rủi ro chuỗi cung ứng. Hợp tác với Úc không chỉ lĩnh vực quốc phòng và thuần an ninh, mà nó còn mở ra sang lĩnh kinh tế, cụ thể là khoáng sản thiết yếu, chuỗi cung ứng, làm tránh phụ thuộc quá lớn vào thị trường hay là tránh bị gây sức ép từ phía Trung Quốc. Đó là những lý do khiến cho Trung Quốc là chất xúc tác để Việt Nam và Úc có thể nhận ra được lợi ích chung của cả hai bên trong việc tăng cường hợp tác.
    Đọc thêmTừ AUKUS đến Bộ Tứ : Gọng kềm Mỹ đang siết lại với Trung Quốc ở Thái Bình Dương
    Đối với Mỹ, Mỹ sẽ xem đó là một điểm tựa mang tính cấu trúc. Từ Chiến tranh Thế thứ hai cũng như từ Chiến tranh lạnh tới nay, Mỹ là nhà cung cấp an ninh (security provider) rất lớn cho khu vực Ấn Độ-Thái Bình Dương. Và nó thể hiện thông qua việc Úc là đồng minh lâu đời của Mỹ. Úc nằm trong liên minh AUKUS, trong nhóm Bộ Tứ QUAD, nằm trong liên Minh Mỹ-Úc-New Zealand - ANZUS. Việc Úc chủ động thắt chặt an ninh với Việt Nam phù hợp với chiến lược Ấn Độ-Thái Bình Dương của Mỹ. Washington đang cố gắng xây dựng một mạng lưới đối tác tự chủ và có khả năng tự bảo vệ luật lệ ở khu vực Ấn Độ-Thái Bình Dương mà Mỹ không cần phải can thiệp quá sâu.
    Điểm thứ hai là mở rộng quan hệ song phương Việt-Úc có thể tạo ra một dư địa cho Hà Nội. Việt Nam nâng cấp quan hệ với Mỹ năm 2023, một năm sau là nâng cấp quan hệ với Úc lên đối tác chiến lược toàn diện. Và điều này cho thấy Việt Nam đang chủ động định vị lại bản thân trong một không gian chiến lược bắt đầu đa cực, trong đó các cường quốc tầm trung nổi lên và có tiếng nói lớn hơn so với trước đây. Và quan hệ song phương vững chắc với Úc cho phép Việt Nam tiếp cận các nguồn lực an ninh, huấn luyện kỹ thuật mang chuẩn mực phương Tây mà không bị gán nhãn là đi theo liên minh quân sự với Mỹ ở một mức độ nhất định, ở thời điểm này đối với Việt Nam là tương đối quan trọng.
    Điểm cuối cùng mà cả hai bên đều thể hiện là Úc và Việt Nam đều lo ngại về sự thiếu ổn định trong chính sách của Mỹ. Cả Việt Nam và Úc đều nhận thức được là chính sách đối ngoại của Washington dưới thời Donald Trump khá bất định. Và hợp tác song phương Úc-Việt là một cách để hai nước tự xây dựng mắt xích an ninh khu vực, mà không hoàn toàn phụ thuộc vào sự can thiệp của Mỹ và những gì mà Mỹ làm ở khu vực cũng như là những khu vực khác.
    Mỹ và Trung Quốc thúc đẩy Việt Nam và Úc tới gần với nhau hơn, nhưng sự hiện diện của cả hai siêu cường cũng đặt ra một số ranh giới rõ ràng cho hợp tác an ninh Việt-Úc.
    Thứ nhất là tư duy tránh chọn bên của Việt Nam. Đây là một hằng số cố định trong tư duy chiến lược của Việt Nam. Bởi vì Việt Nam luôn nhất quán thực hiện chính sách quốc phòng “bốn Không” và trường phái “ngoại giao cây tre”. Tăng cường hợp tác với Úc để bảo về chủ quyền chứ không chọn Úc, Mỹ để chống Trung Quốc.
    Thứ hai là ngay cả Úc cũng có một sự cân bằng thực dụng. Phía Úc nhận thức rõ được điểm này của Việt Nam. Thực tế mà nói trong những thảo luận song phương, Úc cũng không ép Việt Nam phải cam kết theo quy tắc “đồng minh” kiểu phương Tây mà tập trung vào nâng cao năng lực thực chất hơn, ví dụ những mảng mà cả hai bên, ở thời điểm hiện tại, với mức độ quan hệ hiện tại, đều thoải mái trong việc trao đổi thông tin, trao đổi quân sự.
    RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn tiến sĩ Nguyễn Thế Phương, Đại học New South Wales, Úc.
  • Việt Nam: Tìm giải pháp phù hợp cho an toàn thực phẩm tại các chợ truyền thống

    10/08/2026
    Như mọi năm, ngày 07/06/2026 là Ngày An toàn Thực phẩm Thế giới, một dịp để các nước thúc đẩy các giải pháp hướng tới một hệ thống thực phẩm an toàn hơn cho người dân.
    Nhân ngày này, bà Angela Pratt, trưởng đại diện Tổ chức Y tế Thế giới WHO tại Việt Nam, đã kêu gọi Việt Nam “tiếp tục tăng cường các thực hành vệ sinh tốt và chế biến, bảo quản thực phẩm an toàn, nâng cao nhận thức của người tiêu dùng, mở rộng ứng dụng các công nghệ truy xuất nguồn gốc thực phẩm, tạo thêm bằng chứng khoa học thông qua nghiên cứu và thúc đẩy các chính sách hiệu quả hơn.”
    Đối với Việt Nam, một trong những vấn đề đang được đặt ra ngày càng cấp thiết đó là bảo đảm an toàn thực phẩm tại các chợ truyền thống. Hầu như ai cũng biết là thịt cá được bán tại các chợ truyền thống khó mà bảo đảm được vệ sinh an toàn thực phẩm, nhưng vì giá rẻ hơn siêu thị nên nhiều người có thu nhập thấp vẫn phải mua tại đây.
    Vệ sinh an toàn thực phẩm ở các chợ truyền thống ở Việt Nam cũng là một lĩnh vực nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Chăn nuôi Quốc tế (ILRI), đặc biệt là về thịt heo ở các chợ này. Trả lời RFI Việt ngữ ngày 06/07/2026, ông Nguyễn Việt Hùng, giám đốc khu vực châu Á của Viện Nghiên cứu Chăn nuôi Quốc tế (ILRI), cho biết:
    "Viện Nghiên cứu Chăn nuôi Quốc tế ILRI ở Việt Nam làm việc rất chặt chẽ với các đối tác ở Việt Nam, chủ yếu là các cơ quan nghiên cứu thuộc bộ Nông Nghiệp và bộ Y Tế. Những đóng góp của chúng tôi chủ yếu là làm nghiên cứu để tìm ra được bằng chứng, để biết được những vấn đề ô nhiễm thực phẩm xảy ra ở đâu là quan trọng nhất và phát triển những biện pháp can thiệp đơn giản và giá rẻ để cải thiện được tình hình vệ sinh an toàn thực phẩm ở các chợ truyền thống và ở các lò giết mổ nhỏ lẻ ở Việt Nam.
    Hy vọng là những bằng chứng và những sáng kiến về cải thiện an toàn thực phẩm sẽ được nhân rộng ra ở các địa phương. Hiện tại chúng tôi có làm những can thiệp ở năm tỉnh Thái Nguyên, Hà Nội, sau đó là Huế, Cần Thơ và  Đồng Nai, tập trung vào các chợ truyền thống."
    Về tình hình vệ sinh thực phẩm tại các chợ truyền thống ở Việt Nam, ông Nguyễn Việt Hùng ghi nhận:
    “Ở Việt Nam cũng như các nước đang phát triển nói chung, phần lớn thực phẩm được bán ở các chợ truyền thống. Trong nghiên cứu của chúng tôi ở các nước đang phát triển, chủ yếu là các nước ở châu Á và các nước châu Phi, chợ truyền thống thực ra là một từ chung để chỉ những nơi mà người ta thường bày bán những thực phẩm tươi sống và một trong những đặc trưng chính ở các chợ này là tình hình vệ sinh không được tốt, cũng như cơ sở hạ tầng thường không được tốt để đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm. Nó khác một chút so với những hệ thống siêu thị, nơi mà các cơ sở hạ tầng được đảm bảo tốt hơn cho an toàn thực phẩm.
    Về các chợ truyền thống ở Việt Nam, chính sách của Việt Nam là phần lớn các chợ đều được các cơ quan quản lý địa phương để ý và người ta thành lập các ban quản lý chợ. Tuy nhiên, những vấn đề mất an toàn thực phẩm vẫn thường xuyên diễn ra. Viện Nghiên cứu Chăn nuôi Quốc tế ILRI cùng với các đối tác ở Việt Nam tập trung nghiên cứu về vấn đề mất an toàn thực phẩm chủ yếu ở chuỗi giá trị thịt heo, bởi thịt heo là một thực phẩm mà người Việt Nam sử dụng rất nhiều.
    Phần lớn thịt heo ở Việt Nam là được bày bán ở các quầy chợ truyền thống này. Những nghiên cứu của chúng tôi chỉ ra rằng các mẫu thịt lợn được thu thập ở các chợ truyền thống có tỷ lệ nhiễm vi khuẩn gây bệnh như Salmonella còn tương đối cao: Từ khoảng 30 đến 70% số mẫu được thu thập ở các chợ truyền thống là có vi khuẩn gây bệnh Salmonella. 
    Đấy là ở chợ truyền thống. Nếu quay ngược lại chu trình sản xuất, về các lò mổ ở Việt Nam, ngoài một số nhỏ là lò mổ tập trung hiện đại,  phần lớn là những lò mổ truyền thống. Người ta giết mổ thịt lợn ở dưới sàn nên điều kiện vệ sinh không được tốt và quá trình lây nhiễm chéo vi sinh vật trong các lò mổ đó cũng thường xuyên diễn ra.
    Và cuối cùng, khi chúng ta có thịt lợn từ lò mổ mang lên chợ bày bán cho người dân mang về ở hộ gia đình tiêu thụ, việc có đảm bảo được an toàn thực phẩm hay không lại phụ thuộc vào khâu chế biến thực phẩm ở các hộ gia đình.
    Chúng tôi đã làm nghiên cứu tính ra được một số nguy cơ lây nhiễm chéo ở hộ gia đình và cũng đưa ra những khuyến cáo làm thế nào để chuỗi sản xuất thịt heo ở Việt Nam nói chung được cải thiện tốt hơn qua việc cải thiện vệ sinh từ trang trại đến lò mổ, đến chợ và đến việc chế biến thực phẩm, cũng như tiêu thụ tại hộ gia đình.
    Những nghiên cứu của chúng tôi chỉ ra rằng ô nhiễm thực phẩm chủ yếu là ở các quầy thịt heo ở Việt Nam, nếu không được xử lý ở góc độ vệ sinh và không được nấu chín trước khi tiêu thụ, thì nó sẽ gây ra những bệnh truyền lây qua thực phẩm cho người tiêu dùng.
    Vi khuẩn Salmonella là một trong những vi khuẩn gây bệnh chính ở các loại thịt nói chung và đặc biệt là thịt lợn, sẽ gây ra bệnh tiêu chảy và những bệnh liên quan nếu không được được xử lý. Nghiên cứu cách đây mấy năm trước của chúng tôi ước lượng khoảng 17% số người ăn thịt heo có thể có vấn đề về sức khỏe, bị ốm do việc chế biến thịt heo ở Việt Nam, do lây nhiễm chéo ở hộ gia đình."
    Theo báo chí trong nước, vào đầu tháng 6 vừa qua, chợ Tân Mỹ, thuộc phường Tân Mỹ, Thành phố Hồ Chí Minh đã khai trương 2 quầy thịt đầu tiên tại chợ truyền thống được phép sử dụng bộ nhận diện thương hiệu "Tick xanh trách nhiệm". Cho tới nay, các sản phẩm mang nhãn "Tick xanh trách nhiệm" chủ yếu được phân phối qua hệ thống siêu thị và cửa hàng tiện lợi. Kế hoạch theo dự kiến sẽ được mở rộng ra hơn 400 chợ truyền thống trên toàn TP Hồ Chí Minh. Ông Nguyễn Việt Hùng đánh giá về kế hoạch này:
    "Tôi nghĩ đây là một việc làm rất tốt của Thành phố Hồ Chí Minh. Thực ra khi làm nghiên cứu ấy thì chúng tôi thấy ở các chợ đầu mối, người ta quản lý tương đối tốt bằng việc truy xuất nguồn gốc, tức là những lô thịt heo được nhập vào các chợ bán thực phẩm ở Thành phố Hồ Chí Minh, như ở chợ Bình Điền mà chúng tôi theo dõi, đều có hệ thống kiểm soát để biết được thịt heo đó đến từ trang trại nào, đến từ lò mổ nào và có được cấp giấy phép lưu hành hay không.
    Việc truy xuất nguồn gốc giúp cho chúng ta đảm bảo được an toàn vệ sinh thực phẩm ở Việt Nam. Tôi nghĩ đây là một mô hình tốt nên được nhân rộng. Tuy nhiên, ở những chợ nhỏ lẻ hơn thì tôi không biết có áp dụng được như ở các chợ đầu mối lớn hay không.
    Luật An toàn Thực phẩm lần đầu tiên được công bố, đưa vào hoạt động năm 2010 và sau 16 năm triển khai thì đang được nhà nước Việt Nam xem lại. Theo tôi được biết là sắp tới đây Luật An toàn Thực phẩm sửa đổi sẽ được thảo luận ở Quốc Hội và nhấn mạnh rất nhiều đến vấn đề truy xuất nguồn gốc trong an toàn thực phẩm."
    Nhưng theo ông Nguyễn Việt Hùng, các biện pháp được đưa ra để cải thiện tình hình vệ sinh an toàn thực phẩm phải phù hợp với điều kiện thực tế ở địa phương:
    "Việt Nam có chính sách rất rõ ràng về tiêu chuẩn của những chợ, những quầy bán thịt. Ví dụ, bàn phải cao bao nhiêu so với mặt đất, cấu trúc ra sao, để góp phần bảo đảm được an toàn thực phẩm. Tuy nhiên, trong thực tế khi chúng tôi đi làm nghiên cứu hoặc thăm các chợ truyền thống thì phần lớn ở các chợ, người ta chưa chấp hành những quy định của nhà nước về an toàn thực phẩm. Với một cái thực hành trên diện rộng như thế thì kỳ vọng mọi người đều thay đổi một cách toàn diện ngay lập tức là rất khó và không thực tế, trong hoàn cảnh Việt Nam và các nước đang phát triển nói chung.
    Chính vì thế, khi triển khai những chính sách như thế này, tôi nghĩ là phải cần một sự can thiệp đồng bộ và phải có sự hỗ trợ từ phía nhà nước để nâng cấp các chợ sao cho có điều kiện vệ sinh tốt hơn, có cấu trúc hạ tầng tốt hơn, chẳng hạn phải có hệ thống nước cho người ta rửa tay, hoặc là phải tập huấn cho những hộ bán thịt biết thực hành vệ sinh như thế nào cho tốt.
    Chúng tôi có đề xuất những can thiệp như một cái kiềng ba chân, tức là khi muốn cải thiện điều kiện an toàn thực phẩm ở các chợ truyền thống ở Việt Nam, đặc biệt là các quầy bán thịt heo, thì có ba vấn đề. Thứ nhất, nói gì thì nói, chúng ta phải có những điều kiện và cơ sở vật chất để người ta thực hành được vệ sinh, tức là phải có quầy bán thịt bằng những mặt inox để  việc lau rửa được thuận tiện. Thứ hai là phải có nước, có xà phòng sát khuẩn. Thứ ba là chúng ta phải tập huấn thực hành vệ sinh tốt cho những người bán thịt ở các quầy chợ đó. Khi mọi người, người tiêu dùng, người bán thịt, người chăn nuôi, nhìn thấy cái lợi trong hành động của mình thì tất cả mọi thứ sẽ tốt lên.
    Cuối cùng, những nhà làm chính sách và những nhà quản lý các chợ đó hoặc ở cấp địa phương cũng phải tạo điều kiện cho những người bán thịt cũng như những người tham gia chuỗi sản xuất và người tiêu dùng có điều kiện thực hành
    Tất cả những quy định pháp luật đó phải phù hợp với điều kiện thực tế ở địa phương. Bởi vì nếu mà chúng ta đặt ra những quy định quá cao, không phù hợp với điều kiện thực tế và thiên nhiều hơn vào việc phạt những người làm sai, thì đó không phải là một giải pháp có thể áp dụng được rộng rãi và làm thay đổi được gốc rễ hiện tại của an toàn thực phẩm ở Việt Nam."
About Tạp chí Việt Nam
Những vấn đề, sự kiện đang được dư luận quan tâm ở Việt Nam
Podcast website