Tạp chí Việt Nam
Latest episode
88 episodes
- Hội nghị lần thứ 17 của Liên Hiệp Quốc (COP17) về Chống Sa mạc hóa đang diễn ra từ ngày 17 đến 28/08/2026 tại Ulan Bator, thủ đô của Mông Cổ. Hội nghị quy tụ 197 quốc gia và tổ chức khu vực nhằm giải quyết vấn đề phục hồi đất đai và chống hạn hán. COP17 về Chống sa mạc hóa diễn ra trong khuôn khổ Năm Quốc tế về Đồng cỏ và Chăn nuôi Du mục.
Đồng cỏ là những vùng đất tự nhiên rộng lớn, không canh tác, chủ yếu được sử dụng để chăn thả gia súc, bao phủ hơn một nửa diện tích đất liền của Trái Đất và trực tiếp hỗ trợ sinh kế cho khoảng 500 triệu người. Chăn nuôi du mục hay chăn thả tự do cũng là một vấn đề trọng tâm tại hội nghị COP lần này. Đây là phương thức chăn nuôi quảng canh, dựa vào việc gia súc ăn cỏ tự nhiên trên đồng cỏ và thường có đặc điểm là tính di động của người chăn nuôi và đàn gia súc.
Do 2026 là Năm Quốc tế Du mục, cho nên tại Triển lãm Nông nghiệp Quốc tế Paris ( 27/02 - 07/03/2026 ), Trung tâm Hợp tác Quốc tế về Nghiên cứu Nông nghiệp vì Sự Phát triển ( CIRAD ) của Pháp cùng với Cơ quan Phát triển Pháp ( AFD ) đã chọn chăn nuôi du mục là chủ đề chính, nhằm quảng bá rộng rãi hơn một hình thức chăn nuôi còn rất phổ biến ở nhiều nước, trong đó có cả Việt Nam, nhưng cho tới nay ít được giới nghiên cứu và các chính quyền để ý đến.
Trả lời RFI Việt ngữ tại Triển lãm Nông nghiệp, kỹ sư nông học Guillaume Duteurtre, nhà nghiên cứu tại trung tâm CIRAD, cho biết :
“Năm quốc tế này là cơ hội để giới thiệu những gì chúng tôi đang làm trong lĩnh vực này cho CIRAD và AFD, và đặc biệt là tham gia vào các hoạt động vận động, chiến dịch nâng cao nhận thức và các sự kiện giúp thúc đẩy phát triển chăn nuôi du mục ở các quốc gia mà chúng tôi hoạt động.
Trên hành tinh của chúng ta, chăn thả du mục hiện diện ở mọi vĩ độ. Từ các vĩ độ phía bắc với việc chăn nuôi tuần lộc, đến các vĩ độ nhiệt đới và thậm chí cả xích đạo với chăn nuôi gia súc, tức là ở vùng thảo nguyên. Đó là một hệ thống chăn nuôi gia súc và một lối sống của khoảng 500 triệu người trên toàn thế giới, dựa trên việc sử dụng thảm thực vật tự nhiên.
Chủ yếu đó là chăn nuôi gia súc, động vật nhai lại, nhưng cũng bao gồm cả chăn nuôi lạc đà, và đôi khi cả ngựa nữa, như ở Mông Cổ, nơi mà ngựa có vai trò rất quan trọng. Đó là một hệ thống giúp cho nhiều cộng đồng kiếm sống từ hoạt động thường được liên kết với nông nghiệp. Chăn thả kết hợp với nông nghiệp cũng là một hệ thống cho phép sử dụng bền vững các khu vực rừng nơi động vật được chăn thả. Trong ngành chăn thả kết hợp lâm nghiệp ( sylviopastoralisme ), chúng ta cũng có thể sử dụng các sản phẩm từ rừng.
Ở châu Âu, rõ ràng đây là một hệ thống quan trọng, đặc biệt là ở các vùng núi. Nhưng ở các quốc gia nhiệt đới mà CIRAD hoạt động, đây là một hệ thống có tính cấu trúc đặc biệt đối với các vùng lãnh thổ. Người ta ước tính rằng, trên toàn thế giới, đồng cỏ – những vùng đất rộng lớn với thảm thực vật tự nhiên – chiếm khoảng 45% diện tích đất liền của Trái đất. Đây là những vùng lãnh thổ khổng lồ.”
Ngành chăn nuôi du mục hiện đang phải đối mặt với những thách thức nào do tác động của biến đổi khí hậu, vốn đang ngày càng làm giảm diện tích đất có thảm thực vật? Kỹ sư Guillaume Duteurtre giải thích :
“Tác động của biến đổi khí hậu khác nhau tùy thuộc vào từng khu vực. Những gì đang xảy ra ở Siberia không giống với những gì đang xảy ra ngay giữa vùng Sahel ( Châu Phi ). Vì vậy, phải tính đến bối cảnh địa phương. Ví dụ chúng tôi đã thực hiện rất nhiều nghiên cứu ở Tây Phi và vùng Sahel. Chúng tôi nhận thấy lượng mưa đang tăng lên do biến đổi khí hậu, nhưng được phân bổ không đồng nhất giữa các mùa và trong suốt các năm. Do đó, các hệ thống này đang chịu áp lực do sự bất thường này.
Chúng tôi cũng nhận thấy nhiệt độ đang tăng lên ở khu vực Sahel. Điều này gây thêm áp lực lên vật nuôi. Do lượng mưa đang tăng lên và được phân bổ không đều, cho nên đã xảy ra một số trận lũ lụt và các hiện tượng thời tiết cực đoan, dẫn đến cái chết của động vật. Ví dụ, trong mùa mưa vừa qua ở Sahel, đã có nhiều động vật bị chết đuối.
Đó là bối cảnh khí hậu chung. Vì vậy, khó khăn nằm ở việc thích ứng với những thay đổi này, đồng thời cũng thích ứng với những thay đổi khác. Thay đổi lớn đầu tiên tất nhiên là sự gia tăng diện tích đất canh tác và sự gia tăng số lượng động vật. Với sự gia tăng dân số, áp lực từ thị trường thịt và sữa, thế giới ngày càng có nhiều động vật hơn, trong khi không gian sống ngày càng ít hơn. Vì vậy, đó là hạn chế đầu tiên: có sự căng thẳng cả về đồng cỏ chăn thả và đường đi của động vật, hành lang tiếp cận sông ngòi, nguồn nước uống, hành lang tiếp cận khu vực trú ẩn, v.v. Và hiện nay còn có một sự thay đổi lớn khác đang diễn ra: Trong khuôn khổ Công ước Liên Hiệp Quốc về Đa dạng sinh học, các quốc gia cam kết sẽ tăng diện tích các khu bảo tồn, các khu vực bảo vệ thiên nhiên.”
Riêng ở Việt Nam hiện nay, chăn thả tự do vẫn là một trong 3 phương thức chăn nuôi phổ biến cùng với chăn nuôi bán công nghiệp và chăn nuôi theo kiểu công nghiệp. Phương thức chăn thả tự do có những lợi thế, như tận dụng được nguồn thức ăn tự nhiên, phụ phẩm nông nghiệp, vật nuôi cho chất lượng thịt săn chắc, thơm ngon, nhưng phương thức này lại có nhược điểm là phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên, quy mô nuôi đàn chỉ ở mức vừa phải, và nhất là khó kiểm soát dịch bệnh.
Vấn đề đang được đặt ra đối với những vùng vẫn còn tồn tại phương thức chăn thả như ở tỉnh Điện Biên ở miền bắc Việt Nam, đó là phải làm sao giảm thiểu xung đột giữa phương thức chăn nuôi này với việc bảo tồn đa dạng sinh học. Trung tâm CIRAD đã có những hoạt động để hỗ trợ nông dân vùng núi miền bắc Việt Nam chuyển từ chăn thả tự nhiên sang canh tác sinh thái và chăn nuôi, theo lời kỹ sư Guillaume Duteurtre :
“Trung tâm CIRAD đã làm việc từ nhiều năm qua ở Việt Nam, đặc biệt là các vùng núi phía Bắc, về hệ thống canh tác sinh thái và chăn nuôi, mà theo truyền thống thường được tích hợp cao, với một ít ruộng lúa, một vài cây ăn quả, một số ao hồ và một đàn gia súc nhỏ như dê hoặc bò. Trong lĩnh vực này, chúng tôi đang hợp tác với các tổ chức nghiên cứu của Việt Nam và bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn để khuyến khích các hệ thống nông nghiệp sinh thái và thúc đẩy các phương pháp quản lý môi trường để sản xuất nhưng vẫn tôn trọng môi trường.
Có những thách thức đáng kể liên quan đến tình trạng xói mòn sườn dốc ở khu vực phía Bắc Việt Nam này, do việc chuyên canh cây trồng, đặc biệt là ngô và sắn. Do đó, chúng tôi đang làm việc với tất cả các đối tác về các hệ thống canh tác và chăn nuôi tích hợp để sản xuất ngô và sắn đồng thời bao gồm cả chăn nuôi. Vì vậy, lợi thế của việc chăn nuôi gia súc ở khu vực này là có thể tận dụng được diện tích rừng, rất rộng lớn do các quy định rất nghiêm ngặt về bảo tồn rừng cộng đồng và rừng sản xuất. Gia súc có thể giúp nâng cao giá trị của các khu vực rừng này khi được chăn thả, bởi vì chúng không chỉ ăn cỏ mà còn ăn rất nhiều lá cây. Và trên hết, chúng tôi sẽ cố gắng thúc đẩy việc sử dụng phân chuồng để duy trì độ phì nhiêu của đất tại các vườn cây ăn quả và các khu rừng trồng để bán.
Đó là một quan hệ đối tác rất tốt và chúng tôi đang cố gắng đo lường lợi ích môi trường của các hệ thống nông nghiệp và chăn nuôi tích hợp này, vốn đã rất quen thuộc với thế hệ những người lớn tuổi trong cộng đồng, ít nhất là những người lớn tuổi trong khu vực đó. Chúng tôi đang so sánh những lợi ích môi trường này với lợi ích kinh tế để giúp ra quyết định về các chính sách phát triển.”
Trong khuôn khổ các hoạt động ở Việt Nam, trung tâm CIRAD đã tham gia vào Dự án Chuyển đổi hệ thống Nông nghiệp sinh thái và Thực phẩm an toàn (ASSET), tại 2 tỉnh Sơn La và Điện Biên, từ năm 2021. Với tài trợ của Cơ quan Phát triển Pháp (AFD), Liên Hiệp Châu Âu (EU) và Quỹ Môi trường toàn cầu của Pháp (FFEM), dự án ASSET hướng tới mục tiêu thúc đẩy hệ thống nông nghiệp sinh thái, nâng cao an toàn thực phẩm và phát triển sinh kế bền vững. Kỹ sư Guillaume Duteurtre cho biết :
“Chúng tôi làm việc trước hết với chính quyền địa phương, những người đảm trách việc hỗ trợ sự phát triển này và rất nhiệt tình tham gia vào các cơ chế tham gia, trong đó chúng tôi thảo luận với đại diện của nông dân để xác định phương pháp tiếp cận tốt nhất cho từng khu vực. Chúng tôi cũng hợp tác với lãnh đạo các tổ chức quần chúng, vốn được tổ chức rất chặt chẽ ở Việt Nam, đại diện cho nông dân, gia đình họ và các hội phụ nữ, để cố gắng nâng cao nhận thức trong cộng đồng về các hệ thống này, đôi khi phức tạp hơn hệ thống chuyên canh, độc canh, nhưng về lâu dài lại bền vững và có khả năng chống chịu tốt hơn nhiều.
Chúng tôi có một số kinh nghiệm rất tốt về dự báo, tức là các kịch bản tương lai mà chúng tôi cố gắng phát triển tại địa phương ở cấp xã với các cộng đồng cư dân này để dự trù trong những năm nào chúng ta sẽ chuyên canh cây mắc ca, liệu chúng ta có thúc đẩy chăn thả gia súc trong vườn mắc ca hay không, liệu chúng ta có khuyến khích sản xuất thịt khô để thúc đẩy ngành chăn nuôi bò zebu hoặc lợn hay không, v.v. Đây là những kinh nghiệm về đổi mới thông qua hợp tác, một cách thức nghiên cứu mới đối với chúng tôi cùng với các đồng nghiệp nghiên cứu của Việt Nam.
Chúng tôi vừa mới hoàn thành một dự án rất lớn, kéo dài 5 năm do Liên Hiệp Châu Âu tài trợ, tại khu vực Điện Biên, nơi chúng tôi đã hợp tác rộng rãi với nhiều sắc tộc thiểu số trong khu vực. Hiện tại chúng tôi đang xem xét các dự án nhằm thúc đẩy nền kinh tế tuần hoàn, tức là tái chế sinh khối thông qua các hệ thống canh tác hỗn hợp. Vì vậy, hiện tại chúng tôi đang xây dựng một dự án lớn với nhiều đối tác về kinh tế tuần hoàn, đây là một cách tiếp cận khác biệt hơn đối với phát triển nông nghiệp hiện nay, đặc biệt là ở những vùng lãnh thổ dễ bị tổn thương này.”
Vào tháng 10 năm ngoái, trung tâm CIRAD cùng với Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam và Tổ chức GRET Viện đã tổ chức hội thảo để tổng kết việc thực hiện dự án ASSET tại Điện Biên. Các bên đánh giá dự án này đã đạt những kết quả tích cực đó là làm thay đổi phương thức sản xuất từ chăn thả, bán chăn thả sang chăn nuôi có quản lý, kiểm soát. Biên phòng, cảnh sát biển Việt Nam: Hai lực lượng đi đầu trong mở rộng ngoại giao quốc phòng với Úc
17/08/2026Việt Nam và Úc công bố ba tuyên bố chung khi kết thúc chuyến thăm cấp Nhà nước tới Úc của chủ tịch nước Tô Lâm từ ngày 09 đến 12/08/2026. Hai nhà lãnh đạo coi đây là minh chứng cho “sự tương đồng ngày càng lớn về lợi ích chiến lược”. Còn giới quan sát đánh giá sự kiện này là “chưa từng có tiền lệ”. Về hợp tác quốc phòng, hai nước đã trao đổi ba văn kiện hợp tác về tìm kiếm cứu nạn, biên phòng và cảnh sát biển.
Trong một bài viết trên trang The Diplomat, tiến sĩ Nguyễn Hồng Hải nhận thấy "điểm đáng chú ý, các tuyên bố chung cho thấy Việt Nam đang thể hiện tự tin hơn khi đề cập đến "Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương" như một cấu trúc khu vực", thay vì "thận trọng" như trước đây. Điều này cho thấy "Việt Nam đang khẳng định vị thế vững chắc hơn trong cấu trúc khu vực rộng lớn này, thay vì coi đây là khái niệm chủ yếu thuộc về các bên khác".
Để hiểu hơn về quá trình hợp tác an ninh và quốc phòng giữa Việt Nam và Úc, RFI Tiếng Việt phỏng vấn tiến sĩ Nguyễn Thế Phương, chuyên ngành an ninh hàng hải và các vấn đề hải quân, Đại học New South Wales, Úc.
RFI : Úc và Việt Nam có mối quan hệ hợp tác quốc phòng từ khá lâu, hai nước hợp tác trong những lĩnh vực nào ?
Nguyễn Thế Phương : Nhìn lại lịch sử hợp tác, quan hệ hợp tác quốc phòng Việt được đặt móng từ Bản ghi nhớ Hợp tác Quốc phòng năm 2010, cũng là 16 năm rồi. Và 8 năm sau đó, năm 2018 là Tuyên bố Tầm nhìn chung.
Từ đó tới nay, quan hệ quốc phòng Việt-Úc tập trung vào một số mảng sau đây. Thứ nhất là đào tạo và huấn luyện. Đây là một trụ cột nền tảng. Rất nhiều học viên, sĩ quan Việt Nam đang học ở Học Viện Quốc Phòng Úc, không chỉ ở thủ đô Canberra, mà còn ở những cơ sở huấn luyện quốc phòng khác, nhưng tập trung chủ yếu ở Học Viện Quốc Phòng Úc. Úc là một trong những quốc gia cung cấp rất nhiều học bổng đào tạo ngoại ngữ, cụ thể là tiếng Anh chuyên ngành quân sự và quản lý quân sự chuyên sâu cho các cán bộ sĩ quan quân đội Việt Nam.
Ở chiều ngược lại, Úc họ cũng cử quân nhân sang Việt Nam học tiếng Việt và tham gia một số các khóa đào tạo về quốc phòng tại Học Viện Quốc Phòng ở Việt Nam. Trong quá trình hội nhập quốc tế, nếu so sánh các đối tác quốc phòng, ngoài Mỹ, cứ cho rằng Úc thuộc phương Tây, thì Úc hỗ trợ Việt Nam gần như là nhiều nhất, nhiều khi hơn cả Pháp. Đây là điểm trụ cột nền tảng trong quan hệ quốc phòng Việt-Úc trong khoảng 10 năm qua.
Đọc thêmViệt Nam - Úc : Mối quan hệ “thực chất” dựa trên “niềm tin chính trị”
Điểm thứ hai, một trong những điểm rất nổi bật, là hợp tác trong mảng gìn giữ hòa bình Liên Hiệp Quốc. Úc hỗ trợ toàn diện cho Việt Nam từ vấn đề kỹ thuật, huấn luyện lực lượng cho đến logistic. Hầu như tất cả các lực lượng Việt Nam qua châu Phi để tiến hành các hoạt động gìn giữ hòa bình đều được vận chuyển bằng máy bay vận tải hàng nặng C17 Globemaster của Úc. Từ con người, trang thiết bị cho tới những vấn đề hầu cần từ châu Á tới châu Phi là Úc hỗ trợ Việt Nam cái mảng này, hầu như là duy nhất luôn.
Mảng thứ ba cũng cần được nhắc tới là khắc phục hậu quả chiến tranh. Úc hỗ trợ chia sẻ dữ liệu, kỷ vật chiến tranh, công tác bản đồ để phục vụ cho quá trình rà phá bom mìn và tìm kiếm liệt sĩ Việt Nam mất tích trong chiến tranh.
Và vấn đề được làm một cách thường xuyên, liên tục năm này qua năm khác, chính là tham vấn chính trị quốc phòng cả song phương lẫn đa phương, ví dụ đối thoại chính sách quốc phòng song phương Việt Nam và Úc trước đây thường là cấp thứ trưởng và phối hợp trên các diễn đàn khu vực, ví dụ Diễn đàn bộ trưởng Quốc Phòng ASEAN mở rộng ADMM+.
Đó là bốn lĩnh vực hợp tác quốc phòng Việt-Úc đã tiến hành trong vòng 10 năm qua.
RFI : Kế từ khi hai nước nâng cấp quan hệ lên mức cao nhất - Đối tác Chiến lược toàn diện - mối quan hệ này được phát triển như thế nào và mở rộng ra những lĩnh vực nào ?
Nguyễn Thế Phương : Khi Việt Nam và Úc nâng cấp lên Đối tác Chiến lược Toàn diện từ tháng 03/2024, điểm được mở rộng hợp tác là thỏa thuận gìn giữ hòa bình, trong giai đoạn hợp tác mới thì sẽ không đơn lẻ mà sẽ mở rộng ra rất nhiều lĩnh vực khác nhau. Trước đây lực lượng gìn giữ hòa bình Việt Nam tham gia vào hai mảng : quân y và công binh. Đây vốn là hai mảng phi tác chiến và Việt Nam, từ hồi chiến tranh tới giờ, có rất nhiều kinh nghiệm và khả năng thực hiện một cách tốt nhất.
Từ 2024 tới nay, Việt Nam và Úc sẽ mở rộng lĩnh vực đó, không chỉ công binh, y tế mà còn cả cảnh sát. Tức là công an Việt Nam tham gia vào gìn giữ hòa bình. Úc cũng sẽ tham gia vào quá trình huấn luyện lực lượng đó. Hợp tác quân chủng giữa hai bên cũng được mở rộng, gia tăng hoạt động giao lưu trao đổi kinh nghiệm cụ thể, phòng không, không quân, đặc biệt là biên phòng và cảnh sát biển. Bởi vì Việt Nam ưu tiên sử dụng những lực lượng phi tác chiến trong bối cảnh mở rộng ngoại giao quốc phòng, trong đó biên phòng và cảnh sát biển là hai lực lượng có thể đi đầu trong mảng này. Ngoài ra, Việt Nam còn mở rộng tham gia vào một số cuộc tập trận đa phương mà Úc tham gia.
Đọc thêmNhững kỳ vọng về quan hệ "Đối tác chiến lược toàn diện" giữa Việt Nam và Úc
Và cuối cùng là mở rộng sang lĩnh vực an ninh phi truyền thống, ví dụ an ninh hàng hải và thúc đẩy luật pháp quốc tế, tôn trọng UNCLOS 1982, tăng cường nhận thức hàng hải ở Biển Đông, tăng cường hợp tác trong việc thực thi pháp luật trên biển giữa cảnh sát Việt Nam và Úc, có thể cải thiện an ninh mạng và công nghiệp quốc phòng. Đây là một mảng mới tại vì thật ra công nghiệp quốc phòng Úc, tính đến thời điểm hiện tại cũng không nổi bật lắm so với một số nước phát triển khác như Ấn Độ, nhưng vẫn có những điểm mà hai bên có thể hợp tác được. Tiếp theo là phòng chống tội phạm xuyên quốc gia và an ninh biên giới cũng được hai bên đẩy mạnh. Và cuối cùng là cứu hộ cứu nạn vì biến đổi khí hậu. Trong khoảng thời gian gần đây, hai bên tăng cường hợp tác mảng này, chia sẻ thông tin, kinh nghiệm, cải thiện năng lực cứu hộ cứu nạn cho cả hai nước.
RFI : Nhân chuyến công du nước Úc của ông Tô Lâm, hai nước cũng đã ký biên bản ghi nhớ về hợp tác thực thi pháp luật hàng hải, tăng cường hợp tác quân sự. Vậy trong thời gian tới, sự hợp tác này sẽ được phát triển theo những hướng nào ?
Nguyễn Thế Phương : Hai nước đã trao đổi các văn kiện hợp tác quan trọng, nhất là một biên bản ghi nhớ - MOU về hợp tác thực thi pháp luật trên biển giữa cảnh sát biển và biên phòng Việt Nam với lại lực lượng quản lý biên giới Úc.
Thứ hai là tuyên bố tầm nhìn chung về hợp tác quốc phòng cập nhật, xác lập một bước phát triển nguyên tính bản lề về định hướng quốc phòng giữa Việt Nam và Úc trong thời gian tới. Ở đây sẽ có một số điểm như sau.
Thứ nhất là nâng cấp năng lực và thực thi pháp luật hàng hải. Trọng tâm sẽ là tăng cường những hoạt động giao lưu giữa hai bên, và đặc biệt là chia sẻ về khả năng hợp tác tác chiến và vận hành giữa lực lượng cảnh sát biển, biên phòng Việt Nam và lực lượng quản lý biên giới Úc, chia sẻ thông tin tình báo hàng hải, phối hợp tuần tra chống đánh bắt cá trái phép và đặc biệt là xử lý di dân bất hợp pháp. Cụ thể, Úc sẽ hỗ trợ Việt Nam nâng cao năng lực giám sát không gian biển, thông qua các chương trình trong khuôn khổ đối tác hàng hải Úc và Đông Nam Á. Và Úc cũng sẽ giúp cho Việt Nam giám sát tốt hơn các hoạt động ở vùng biển tranh chấp trên cơ sở tuân thủ luật pháp quốc tế.
Đọc thêmHợp tác an ninh hàng hải giữa Úc với Việt Nam sẽ “không phô trương” như với Philippines
Điểm thứ hai là cứu hộ cứu nạn và hỗ trợ thảm họa, cũng sẽ được đẩy mạnh trong tương lai, liên quan tới hoạt động huấn luyện và diễn tập chung. Tại sao điểm này là điểm khá quan trọng ? Bởi vì quân đội Việt Nam và quân đội Úc cũng sẽ mở rộng quy mô các cuộc diễn tập đa phương và tương tác giữa các quân binh chủng. Trong tương lai, Việt Nam sẽ tiếp tục mở rộng tham gia vào các cuộc diễn tập do Úc chủ trì. Ví dụ cuộc diễn tập Hải Quân đa phương Kakadu, Việt Nam đã tham gia trong hai năm 2024, 2026. Việt Nam cũng sẽ tiếp tục cử quan sát viên tới cuộc diễn tập Talisman Sabre. Trong tương lai, tần suất cũng như là nội dung tham gia sẽ được mở rộng ra thêm. Và tương tác quân binh chủng cũng sẽ tập trung chuyên sâu vào các mảng mà hai bên có thế mạnh, ví dụ như quân y, công binh và chống khủng bố.
Ngoài ra, còn có một mảng là phòng chống tội phạm xuyên quốc gia và an ninh phi truyền thống thì sẽ tập trung vào phòng chống tội phạm mạng và lừa đảo trực tuyến, an ninh biên giới. Bộ Quốc Phòng, bộ Công An Việt Nam sẽ hợp tác với bộ Nội Vụ và Cảnh sát Úc trong chống buôn lậu, rửa tiền, ma túy.
Tóm lại, hướng đi tương lai của hợp tác quốc phòng Việt-Úc sẽ bám sát vào tinh thần của quan hệ đối tác chiến lược toàn diện giữa hai bên. Và ở đây, Việt Nam nhấn mạnh tới điểm là không hướng tới “liên minh quân sự” chống lại bên thứ ba và hợp tác là nhằm nâng cao năng lực tự chủ của cả hai bên và đóng góp vào ổn định và hòa bình của toàn bộ khu vực Ấn Độ-Thái Bình Dương.
RFI : Giới chuyên gia và truyền thông phương Tây đều nhắc đến Trung Quốc và Hoa Kỳ trong sự gia tăng hợp tác an ninh giữa Úc và Việt Nam cho dù không trực tiếp nêu tên. Mỹ và Trung Quốc đóng vai trò như thế nào trong chiến lược tăng cường hợp tác giữa Úc và Việt Nam ?
Nguyễn Thế Phương : Cả hai nước đều là hai nước lớn. Và quá trình cạnh tranh hợp tác giữa Mỹ và Trung Quốc ở khu vực Ấn Độ-Thái Bình Dương luôn là một yếu tố cấu trúc nền tảng trong bất kỳ mối quan hệ an ninh quốc phòng nào, không chỉ của Việt Nam và Úc mà còn của tất cả cặp song phương khác ở khu vực Ấn Độ-Thái Bình Dương.
Ở đây, Trung Quốc là yếu tố tạm gọi là “động lực thúc đẩy chính” cho quan hệ Việt-Úc, thì Trung Quốc tạo nên “đồng quy chiến lược” giữa Việt Nam và Úc. Cả Úc và Việt Nam đều là những quốc gia phụ thuộc vào các tuyến đường hàng hải thông qua biển, ở đây là Biển Đông. Và sự gia tăng độ hung hăng của Trung Quốc ở Biển Đông làm cho cả hai bên lo ngại về nguy cơ luật pháp quốc tế bị xói mòn, tạo ra một xung đột không đáng có ở khu vực có tầm quan trọng với giao thương quốc tế là rất cao. Hợp tác an ninh hải sẽ giúp cả Việt Nam và Úc nâng cao năng lực giám sát, cũng như là thực thi pháp luật trên biển.
Thứ hai là yếu tố gọi là hedging - phòng ngừa rủi ro. Đối với Úc, họ mong muốn mở rộng quan hệ mạng lưới an ninh với các quốc gia tầm trung ở Đông Nam Á mà Việt Nam là một trong những quốc gia tầm trung quan trọng nhất ở Đông Nam Á. Đối với Việt Nam, tăng cường quan hệ với Úc sẽ giúp Việt Nam đa dạng hóa đối tác và nâng cao năng lực tự chủ quốc phòng mà không tạo ra đối đầu trực tiếp với Bắc Kinh. Điểm này được Việt Nam gọi là “cân bằng mềm”. Tăng cường hợp tác với Úc, ở đây không nói về Mỹ, để tạo một tấm đệm để Việt Nam đa dạng hóa nguồn lực.
Và cuối cùng, điểm này tương đối mới ở thời điểm hiện tại, đó là giảm thiểu rủi ro chuỗi cung ứng. Hợp tác với Úc không chỉ lĩnh vực quốc phòng và thuần an ninh, mà nó còn mở ra sang lĩnh kinh tế, cụ thể là khoáng sản thiết yếu, chuỗi cung ứng, làm tránh phụ thuộc quá lớn vào thị trường hay là tránh bị gây sức ép từ phía Trung Quốc. Đó là những lý do khiến cho Trung Quốc là chất xúc tác để Việt Nam và Úc có thể nhận ra được lợi ích chung của cả hai bên trong việc tăng cường hợp tác.
Đọc thêmTừ AUKUS đến Bộ Tứ : Gọng kềm Mỹ đang siết lại với Trung Quốc ở Thái Bình Dương
Đối với Mỹ, Mỹ sẽ xem đó là một điểm tựa mang tính cấu trúc. Từ Chiến tranh Thế thứ hai cũng như từ Chiến tranh lạnh tới nay, Mỹ là nhà cung cấp an ninh (security provider) rất lớn cho khu vực Ấn Độ-Thái Bình Dương. Và nó thể hiện thông qua việc Úc là đồng minh lâu đời của Mỹ. Úc nằm trong liên minh AUKUS, trong nhóm Bộ Tứ QUAD, nằm trong liên Minh Mỹ-Úc-New Zealand - ANZUS. Việc Úc chủ động thắt chặt an ninh với Việt Nam phù hợp với chiến lược Ấn Độ-Thái Bình Dương của Mỹ. Washington đang cố gắng xây dựng một mạng lưới đối tác tự chủ và có khả năng tự bảo vệ luật lệ ở khu vực Ấn Độ-Thái Bình Dương mà Mỹ không cần phải can thiệp quá sâu.
Điểm thứ hai là mở rộng quan hệ song phương Việt-Úc có thể tạo ra một dư địa cho Hà Nội. Việt Nam nâng cấp quan hệ với Mỹ năm 2023, một năm sau là nâng cấp quan hệ với Úc lên đối tác chiến lược toàn diện. Và điều này cho thấy Việt Nam đang chủ động định vị lại bản thân trong một không gian chiến lược bắt đầu đa cực, trong đó các cường quốc tầm trung nổi lên và có tiếng nói lớn hơn so với trước đây. Và quan hệ song phương vững chắc với Úc cho phép Việt Nam tiếp cận các nguồn lực an ninh, huấn luyện kỹ thuật mang chuẩn mực phương Tây mà không bị gán nhãn là đi theo liên minh quân sự với Mỹ ở một mức độ nhất định, ở thời điểm này đối với Việt Nam là tương đối quan trọng.
Điểm cuối cùng mà cả hai bên đều thể hiện là Úc và Việt Nam đều lo ngại về sự thiếu ổn định trong chính sách của Mỹ. Cả Việt Nam và Úc đều nhận thức được là chính sách đối ngoại của Washington dưới thời Donald Trump khá bất định. Và hợp tác song phương Úc-Việt là một cách để hai nước tự xây dựng mắt xích an ninh khu vực, mà không hoàn toàn phụ thuộc vào sự can thiệp của Mỹ và những gì mà Mỹ làm ở khu vực cũng như là những khu vực khác.
Mỹ và Trung Quốc thúc đẩy Việt Nam và Úc tới gần với nhau hơn, nhưng sự hiện diện của cả hai siêu cường cũng đặt ra một số ranh giới rõ ràng cho hợp tác an ninh Việt-Úc.
Thứ nhất là tư duy tránh chọn bên của Việt Nam. Đây là một hằng số cố định trong tư duy chiến lược của Việt Nam. Bởi vì Việt Nam luôn nhất quán thực hiện chính sách quốc phòng “bốn Không” và trường phái “ngoại giao cây tre”. Tăng cường hợp tác với Úc để bảo về chủ quyền chứ không chọn Úc, Mỹ để chống Trung Quốc.
Thứ hai là ngay cả Úc cũng có một sự cân bằng thực dụng. Phía Úc nhận thức rõ được điểm này của Việt Nam. Thực tế mà nói trong những thảo luận song phương, Úc cũng không ép Việt Nam phải cam kết theo quy tắc “đồng minh” kiểu phương Tây mà tập trung vào nâng cao năng lực thực chất hơn, ví dụ những mảng mà cả hai bên, ở thời điểm hiện tại, với mức độ quan hệ hiện tại, đều thoải mái trong việc trao đổi thông tin, trao đổi quân sự.
RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn tiến sĩ Nguyễn Thế Phương, Đại học New South Wales, Úc.- Như mọi năm, ngày 07/06/2026 là Ngày An toàn Thực phẩm Thế giới, một dịp để các nước thúc đẩy các giải pháp hướng tới một hệ thống thực phẩm an toàn hơn cho người dân.
Nhân ngày này, bà Angela Pratt, trưởng đại diện Tổ chức Y tế Thế giới WHO tại Việt Nam, đã kêu gọi Việt Nam “tiếp tục tăng cường các thực hành vệ sinh tốt và chế biến, bảo quản thực phẩm an toàn, nâng cao nhận thức của người tiêu dùng, mở rộng ứng dụng các công nghệ truy xuất nguồn gốc thực phẩm, tạo thêm bằng chứng khoa học thông qua nghiên cứu và thúc đẩy các chính sách hiệu quả hơn.”
Đối với Việt Nam, một trong những vấn đề đang được đặt ra ngày càng cấp thiết đó là bảo đảm an toàn thực phẩm tại các chợ truyền thống. Hầu như ai cũng biết là thịt cá được bán tại các chợ truyền thống khó mà bảo đảm được vệ sinh an toàn thực phẩm, nhưng vì giá rẻ hơn siêu thị nên nhiều người có thu nhập thấp vẫn phải mua tại đây.
Vệ sinh an toàn thực phẩm ở các chợ truyền thống ở Việt Nam cũng là một lĩnh vực nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Chăn nuôi Quốc tế (ILRI), đặc biệt là về thịt heo ở các chợ này. Trả lời RFI Việt ngữ ngày 06/07/2026, ông Nguyễn Việt Hùng, giám đốc khu vực châu Á của Viện Nghiên cứu Chăn nuôi Quốc tế (ILRI), cho biết:
"Viện Nghiên cứu Chăn nuôi Quốc tế ILRI ở Việt Nam làm việc rất chặt chẽ với các đối tác ở Việt Nam, chủ yếu là các cơ quan nghiên cứu thuộc bộ Nông Nghiệp và bộ Y Tế. Những đóng góp của chúng tôi chủ yếu là làm nghiên cứu để tìm ra được bằng chứng, để biết được những vấn đề ô nhiễm thực phẩm xảy ra ở đâu là quan trọng nhất và phát triển những biện pháp can thiệp đơn giản và giá rẻ để cải thiện được tình hình vệ sinh an toàn thực phẩm ở các chợ truyền thống và ở các lò giết mổ nhỏ lẻ ở Việt Nam.
Hy vọng là những bằng chứng và những sáng kiến về cải thiện an toàn thực phẩm sẽ được nhân rộng ra ở các địa phương. Hiện tại chúng tôi có làm những can thiệp ở năm tỉnh Thái Nguyên, Hà Nội, sau đó là Huế, Cần Thơ và Đồng Nai, tập trung vào các chợ truyền thống."
Về tình hình vệ sinh thực phẩm tại các chợ truyền thống ở Việt Nam, ông Nguyễn Việt Hùng ghi nhận:
“Ở Việt Nam cũng như các nước đang phát triển nói chung, phần lớn thực phẩm được bán ở các chợ truyền thống. Trong nghiên cứu của chúng tôi ở các nước đang phát triển, chủ yếu là các nước ở châu Á và các nước châu Phi, chợ truyền thống thực ra là một từ chung để chỉ những nơi mà người ta thường bày bán những thực phẩm tươi sống và một trong những đặc trưng chính ở các chợ này là tình hình vệ sinh không được tốt, cũng như cơ sở hạ tầng thường không được tốt để đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm. Nó khác một chút so với những hệ thống siêu thị, nơi mà các cơ sở hạ tầng được đảm bảo tốt hơn cho an toàn thực phẩm.
Về các chợ truyền thống ở Việt Nam, chính sách của Việt Nam là phần lớn các chợ đều được các cơ quan quản lý địa phương để ý và người ta thành lập các ban quản lý chợ. Tuy nhiên, những vấn đề mất an toàn thực phẩm vẫn thường xuyên diễn ra. Viện Nghiên cứu Chăn nuôi Quốc tế ILRI cùng với các đối tác ở Việt Nam tập trung nghiên cứu về vấn đề mất an toàn thực phẩm chủ yếu ở chuỗi giá trị thịt heo, bởi thịt heo là một thực phẩm mà người Việt Nam sử dụng rất nhiều.
Phần lớn thịt heo ở Việt Nam là được bày bán ở các quầy chợ truyền thống này. Những nghiên cứu của chúng tôi chỉ ra rằng các mẫu thịt lợn được thu thập ở các chợ truyền thống có tỷ lệ nhiễm vi khuẩn gây bệnh như Salmonella còn tương đối cao: Từ khoảng 30 đến 70% số mẫu được thu thập ở các chợ truyền thống là có vi khuẩn gây bệnh Salmonella.
Đấy là ở chợ truyền thống. Nếu quay ngược lại chu trình sản xuất, về các lò mổ ở Việt Nam, ngoài một số nhỏ là lò mổ tập trung hiện đại, phần lớn là những lò mổ truyền thống. Người ta giết mổ thịt lợn ở dưới sàn nên điều kiện vệ sinh không được tốt và quá trình lây nhiễm chéo vi sinh vật trong các lò mổ đó cũng thường xuyên diễn ra.
Và cuối cùng, khi chúng ta có thịt lợn từ lò mổ mang lên chợ bày bán cho người dân mang về ở hộ gia đình tiêu thụ, việc có đảm bảo được an toàn thực phẩm hay không lại phụ thuộc vào khâu chế biến thực phẩm ở các hộ gia đình.
Chúng tôi đã làm nghiên cứu tính ra được một số nguy cơ lây nhiễm chéo ở hộ gia đình và cũng đưa ra những khuyến cáo làm thế nào để chuỗi sản xuất thịt heo ở Việt Nam nói chung được cải thiện tốt hơn qua việc cải thiện vệ sinh từ trang trại đến lò mổ, đến chợ và đến việc chế biến thực phẩm, cũng như tiêu thụ tại hộ gia đình.
Những nghiên cứu của chúng tôi chỉ ra rằng ô nhiễm thực phẩm chủ yếu là ở các quầy thịt heo ở Việt Nam, nếu không được xử lý ở góc độ vệ sinh và không được nấu chín trước khi tiêu thụ, thì nó sẽ gây ra những bệnh truyền lây qua thực phẩm cho người tiêu dùng.
Vi khuẩn Salmonella là một trong những vi khuẩn gây bệnh chính ở các loại thịt nói chung và đặc biệt là thịt lợn, sẽ gây ra bệnh tiêu chảy và những bệnh liên quan nếu không được được xử lý. Nghiên cứu cách đây mấy năm trước của chúng tôi ước lượng khoảng 17% số người ăn thịt heo có thể có vấn đề về sức khỏe, bị ốm do việc chế biến thịt heo ở Việt Nam, do lây nhiễm chéo ở hộ gia đình."
Theo báo chí trong nước, vào đầu tháng 6 vừa qua, chợ Tân Mỹ, thuộc phường Tân Mỹ, Thành phố Hồ Chí Minh đã khai trương 2 quầy thịt đầu tiên tại chợ truyền thống được phép sử dụng bộ nhận diện thương hiệu "Tick xanh trách nhiệm". Cho tới nay, các sản phẩm mang nhãn "Tick xanh trách nhiệm" chủ yếu được phân phối qua hệ thống siêu thị và cửa hàng tiện lợi. Kế hoạch theo dự kiến sẽ được mở rộng ra hơn 400 chợ truyền thống trên toàn TP Hồ Chí Minh. Ông Nguyễn Việt Hùng đánh giá về kế hoạch này:
"Tôi nghĩ đây là một việc làm rất tốt của Thành phố Hồ Chí Minh. Thực ra khi làm nghiên cứu ấy thì chúng tôi thấy ở các chợ đầu mối, người ta quản lý tương đối tốt bằng việc truy xuất nguồn gốc, tức là những lô thịt heo được nhập vào các chợ bán thực phẩm ở Thành phố Hồ Chí Minh, như ở chợ Bình Điền mà chúng tôi theo dõi, đều có hệ thống kiểm soát để biết được thịt heo đó đến từ trang trại nào, đến từ lò mổ nào và có được cấp giấy phép lưu hành hay không.
Việc truy xuất nguồn gốc giúp cho chúng ta đảm bảo được an toàn vệ sinh thực phẩm ở Việt Nam. Tôi nghĩ đây là một mô hình tốt nên được nhân rộng. Tuy nhiên, ở những chợ nhỏ lẻ hơn thì tôi không biết có áp dụng được như ở các chợ đầu mối lớn hay không.
Luật An toàn Thực phẩm lần đầu tiên được công bố, đưa vào hoạt động năm 2010 và sau 16 năm triển khai thì đang được nhà nước Việt Nam xem lại. Theo tôi được biết là sắp tới đây Luật An toàn Thực phẩm sửa đổi sẽ được thảo luận ở Quốc Hội và nhấn mạnh rất nhiều đến vấn đề truy xuất nguồn gốc trong an toàn thực phẩm."
Nhưng theo ông Nguyễn Việt Hùng, các biện pháp được đưa ra để cải thiện tình hình vệ sinh an toàn thực phẩm phải phù hợp với điều kiện thực tế ở địa phương:
"Việt Nam có chính sách rất rõ ràng về tiêu chuẩn của những chợ, những quầy bán thịt. Ví dụ, bàn phải cao bao nhiêu so với mặt đất, cấu trúc ra sao, để góp phần bảo đảm được an toàn thực phẩm. Tuy nhiên, trong thực tế khi chúng tôi đi làm nghiên cứu hoặc thăm các chợ truyền thống thì phần lớn ở các chợ, người ta chưa chấp hành những quy định của nhà nước về an toàn thực phẩm. Với một cái thực hành trên diện rộng như thế thì kỳ vọng mọi người đều thay đổi một cách toàn diện ngay lập tức là rất khó và không thực tế, trong hoàn cảnh Việt Nam và các nước đang phát triển nói chung.
Chính vì thế, khi triển khai những chính sách như thế này, tôi nghĩ là phải cần một sự can thiệp đồng bộ và phải có sự hỗ trợ từ phía nhà nước để nâng cấp các chợ sao cho có điều kiện vệ sinh tốt hơn, có cấu trúc hạ tầng tốt hơn, chẳng hạn phải có hệ thống nước cho người ta rửa tay, hoặc là phải tập huấn cho những hộ bán thịt biết thực hành vệ sinh như thế nào cho tốt.
Chúng tôi có đề xuất những can thiệp như một cái kiềng ba chân, tức là khi muốn cải thiện điều kiện an toàn thực phẩm ở các chợ truyền thống ở Việt Nam, đặc biệt là các quầy bán thịt heo, thì có ba vấn đề. Thứ nhất, nói gì thì nói, chúng ta phải có những điều kiện và cơ sở vật chất để người ta thực hành được vệ sinh, tức là phải có quầy bán thịt bằng những mặt inox để việc lau rửa được thuận tiện. Thứ hai là phải có nước, có xà phòng sát khuẩn. Thứ ba là chúng ta phải tập huấn thực hành vệ sinh tốt cho những người bán thịt ở các quầy chợ đó. Khi mọi người, người tiêu dùng, người bán thịt, người chăn nuôi, nhìn thấy cái lợi trong hành động của mình thì tất cả mọi thứ sẽ tốt lên.
Cuối cùng, những nhà làm chính sách và những nhà quản lý các chợ đó hoặc ở cấp địa phương cũng phải tạo điều kiện cho những người bán thịt cũng như những người tham gia chuỗi sản xuất và người tiêu dùng có điều kiện thực hành
Tất cả những quy định pháp luật đó phải phù hợp với điều kiện thực tế ở địa phương. Bởi vì nếu mà chúng ta đặt ra những quy định quá cao, không phù hợp với điều kiện thực tế và thiên nhiều hơn vào việc phạt những người làm sai, thì đó không phải là một giải pháp có thể áp dụng được rộng rãi và làm thay đổi được gốc rễ hiện tại của an toàn thực phẩm ở Việt Nam." - Tổng thống Mỹ Donald Trump có sẽ đến thăm sân golf mang tên ông ở Hưng Yên vào năm 2027 nhân Hội nghị APEC tại Phú Quốc tháng 11? Dự án sẽ kịp hoàn thành đúng thời điểm, do đang bị chậm tiến độ vì bất đồng giữa người dân và chính quyền về giải phóng mặt bằng? Sân golf Khoái Châu - Trump International Hưng Yên, trị giá khoảng 1,5 tỷ đô la, được cho sẽ góp phần tăng trưởng du lịch hạng sang - lĩnh vực được Việt Nam tập trung đầu tư từ nhiều năm nay.
Trong 9 năm liên tiếp (2017-2025), Việt Nam được World Golf Awards vinh danh là “Điểm đến golf tốt nhất châu Á” và hai lần được trao danh hiệu “Điểm đến golf tốt nhất thế giới” năm 2019 và 2021. Doanh thu từ du lịch golf tăng gần gấp đôi trong vòng 3 năm, từ 600 triệu đô la năm 2022 lên hơn 1 tỷ đô la năm 2025. Cho dù hiện chiếm khoảng 2,7% tổng doanh thu du lịch quốc gia, theo cục trưởng Cục Du Lịch Việt Nam, nhưng các nhà hoạch định quyết định biến golf thành động lực mới đưa du lịch Việt Nam vươn tầm quốc tế. Số sân golf sẽ tăng lên thành 200 vào năm 2030, hơn gấp đôi so với con số 80 sân đạt chuẩn quốc tế hoạt động năm 2025.
Ông Spencer Robinson, trưởng bộ phận Truyền thông, Liên đoàn Golf Châu Á - Thái Bình Dương, cũng bất ngờ trước những mục tiêu đầy tham vọng của Việt Nam khi trả lời hãng tin Mỹ AP : “Hành trình quả là đáng kinh ngạc khi Việt Nam đạt được những thành tựu như hiện nay trong một thời gian ngắn. Tôi đi khắp thế giới và mọi người đều nói về sự phát triển của golf ở Việt Nam. Tôi nghĩ có thể nói đây là thị trường golf sôi động nhất thế giới hiện nay. Rất nhiều kiến trúc sư sân golf muốn đến đây, các nhà sản xuất gậy golf, bất cứ ai trong ngành công nghiệp golf đều rất quan tâm, vì họ thấy sự phát triển của Việt Nam. Họ nghe nói chính phủ muốn xây dựng thêm 100 sân golf nữa trong 5, 10 năm tới”.
Đọc thêmDu lịch Việt Nam đủ nguồn lực chuyên môn cao để hướng đến khách “giàu” ?
Du lịch golf thúc đẩy kinh tế địa phương
Trong chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2030, du lịch golf được xác định “là một sản phẩm du lịch cao cấp, một ngành kinh tế văn hóa thể thao du lịch tổng hợp đóng góp vào tăng trưởng xanh, phát triển vùng và quảng bá hình ảnh quốc gia”. Việt Nam đặt mục tiêu xây dựng chuỗi điểm đến golf mang bản sắc Việt Nam, đào tạo nhân lực, tổ chức sự kiện quốc tế. Thế mạnh của Việt Nam là có hơn 3.000 km đường bờ biển và cảnh quan đa dạng, được coi là những điều kiện tự nhiên lý tưởng cho một sân golf đẹp, thú vị trên địa hình nhấp nhô.
Các khu vực sân golf được trải dài từ bắc xuống nam và phát triển mạnh mẽ ở miền trung với lợi thế về địa hình kết hợp đồi núi và biển, như trường hợp sân golf Hoiana Shores, theo giải thích của tổng giám đốc Wee Peng Siong : “Nhà thiết kế sân golf Robert Trent Jones, Jr. đã sử dụng khẩu hiệu “Bản giao hưởng của golf”, có nghĩa là mọi thứ đều hòa quyện với thiên nhiên và nhịp điệu của thiên nhiên. Giống như một bản giao hưởng vậy. Dựa trên ý tưởng đó, người chơi golf có thể quan sát các cồn cát và địa hình, độ nhấp nhô của nó. Tất cả đều được bố trí một cách tỉ mỉ”.
Dù đi sau nhiều nước về du lịch golf nhưng Việt Nam đang rút ngắn khoảng cách trong thời gian rất ngắn, một phần nhờ thu hút được những tên tuổi lớn trong lĩnh vực kiến trúc golf thế giới (Like Donald, Colin Montgomerie, Sir Nick Faldo, Greg Norman và Robert Trent Jones Jr., hiện nằm trong trong liên minh Việt Nam Golf Coast, VGC). Hệ thống gồm BRG Danang Golf Resort, Montgomerie Links, Ba Na Hills, Laguna Lăng Cô và Hoiana Shores đã giúp Đà Nẵng - Hội An được vinh danh là “Thành phố golf tốt nhất châu Á 2025”. Ngoài ra, để tiếp tục khẳng định thương hiệu và nâng vị thế của du lịch golf Việt Nam, huyền thoại golf người Úc Greg Norman tiếp tục được bổ nhiệm làm đại sứ Du lịch Việt Nam nhiệm kỳ 2025-2030.
Theo bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Việt Nam, khách chơi golf có mức chi tiêu trung bình gấp 6 lần so với khách thường. Để đáp ứng nhu cầu của khách, xung quanh sân golf là một khu phức hợp dịch vụ, khách sạn sang trọng, nhà hàng, spa và thương mại cao cấp, theo nhận định của Nguyễn Đức Long, một người chơi golf : “Họ (Hoiana) có 4 khách sạn, hơn 1.000 phòng, đầy đủ cơ sở vật chất về golf để cho mình có một gói trải nghiệm khác hơn so với những sân khác. Vì ngành golf phát triển như vậy thì chắc chắn đây là một lựa chọn rất là thú vị để mọi người có thể tới trải nghiệm”.
Đọc thêmHưng Yên muốn giảm tiền đền bù trong dự án sân golf của Trump Organization
Không chỉ chơi golf, họ còn có nhu cầu trải nghiệm du lịch tại điểm đến. Và đây là điểm giúp thúc đẩy nền kinh tế địa phương, góp phần tạo việc làm, đặc biệt là ở các khu vực ngoài các trung tâm đô thị lớn, theo nhận định của ông Vũ Nguyên, tổng thư ký Hiệp hội Golf Việt Nam (VGA) :
Khi một sân golf được phát triển ở một địa phương, nó giúp thúc đẩy nền kinh tế tại địa phương đó và cũng sẽ tạo ra hàng ngàn việc làm. Chính vì vậy, những năm gần đây, golf được đón nhận rất nhiều. Những khu vực xung quanh sân golf, các hệ thống từ nhà hàng cho đến khách sạn cũng được phát triển và giúp cho ngành du lịch nói chung.
Đứng đầu số lượng khách nước ngoài đến du lịch golf tại Việt Nam năm 2025 là Trung Quốc (3,8 triệu lượt, tăng 43% nhờ chi phí hợp lý và khoảng cách địa lý gần), tiếp theo là Hàn Quốc (3,2 triệu lượt, đóng góp lớn nhất vào doanh thu cao cấp). Ngoài ra còn có du khách golf Úc, Nhật Bản, Đài Loan, cùng với lượng khách mới nổi từ châu Âu và Ấn Độ. Việt Nam cũng muốn trở thành điểm đến không thể thiếu của khoảng 1,9 triệu golf thủ di chuyển trên toàn cầu hàng năm.
Ngoại giao sân golf
Bên cạnh giá trị kinh tế và du lịch, golf còn được sử dụng làm công cụ ngoại giao, đặc biệt là dưới thời tổng thống Mỹ Donald Trump. Sean Fergusson, thư ký golf và kinh doanh tại "Fore" Business (Anh), được trang Franceinfo trích dẫn, phân tích :
Donald Trump tận dụng những cơ hội này để truyền đạt thông điệp đến người đối thoại. Và các chính trị gia khác nghĩ rằng nếu họ có thể gặp ông ấy trong một buổi chơi golf, ông Trump có thể sẵn sàng thảo luận về những chủ đề mà ông ấy sẽ không nói trước ống kính máy quay.
Nhật Bản là một ví dụ tiêu biểu về khai thác “ngoại giao golf” trong quan hệ với Mỹ. Ngày 11/02/2017, khoảng hai tuần sau khi ông Trump nhậm chức tổng thống, thủ tướng Shinzo Abe đến Florida, cùng chơi golf 18 hố nhằm củng cố quan hệ song phương vì ông Trump luôn chỉ trích đồng minh Đông Á chi ít cho quốc phòng. Sau buổi chơi, ông Trump cho biết đã “hiểu” thủ tướng Abe hơn. Sau khi ông Abe mất, Tokyo từng nhờ tỉ phú Masayoshi Son, nhà sáng lập kiêm tập đoàn công nghệ SoftBank và là bạn chơi golf thân thiết của ông Trump, để tiếp cận ông. Thủ tướng đương nhiệm Takaichi còn tặng tổng thống Trump một cây gậy golf của cố thủ tướng Abe.
Đọc thêmDự án tỷ đô tại quê nhà của tổng bí thư Tô Lâm, lá bài trói buộc Trump của Việt Nam ?
Trong nhiệm kỳ hiện nay, ông Trump thường xuyên “bàn đại sự” trên sân golf. Tổng thống Phần Lan Alexander Stubb, một người chơi golf, trở thành “cầu nối” giữa tổng thống Mỹ và châu Âu. Chơi golf với ông Trump được xem là nằm trong “vòng thân cận” với lãnh đạo Mỹ. Việt Nam chưa có cơ hội này. Tuy nhiên, ít ngày trước ngày lễ nhậm chức của tổng thống thứ 47, bà Nguyễn Thị Phương Thảo, chủ tịch hãng hàng không Vietjet, đến tư dinh Mar-a-Lago và được ông Trump hướng dẫn chơi golf. Chuyến đi được công bố là hoạt động của Vietjet nhưng không rõ có nhận được sự ủy nhiệm nào đó từ chính quyền hay không.
Nông dân trả phí cho ngoại giao sân golf Trump International Hưng Yên ?
Liệu sân golf ở quê hương tổng bí thư-chủ tịch nước Tô Lâm có thể trở thành cầu nối với chính quyền Trump ? Tháng 09/2024, trong thời gian tranh cử tổng thống, ông Donald Trump dự lễ ký thỏa thuận hợp tác xây dựng giữa Trump Organization với Tổng công ty Phát triển đô thị Kinh Bắc (KBC) tại Florida. Tháng 06/2025, bản kê khai tài chính của tổng thống Donald Trump ghi nhận khoản thu 5 triệu đô la từ nhượng quyền thương hiệu.
Giới quan sát cho rằng dự án trở thành phương tiện ngoại giao của Hà Nội trong bối cảnh tổng thống Trump liên tục chỉ trích thặng dư thương mại của Việt Nam với Mỹ, lên mức kỷ lục 178,2 tỷ đô la năm 2025 (chỉ sau trung Quốc) và đe dọa tăng thuế. Khi mức thặng dư đạt 55 tỷ đô la năm 2019, Việt Nam đã bị ông Trump gọi là “kẻ lạm dụng thương mại tồi tệ nhất”. Tuy nhiên, trả lời báo tài chính Anh Financial Times, nhà nghiên cứu Nguyễn Khắc Giang, Viện ISEAS-Yusof Ishak (Singapore), nhận định :
Tính biểu tượng là điều quan trọng nhưng nó sẽ không thể giải quyết tất cả những mối quan ngại cũng như những vấn đề mang tính cơ cấu giữa Việt Nam và Mỹ.
Sân golf Trump International Hưng Yên được khởi công chiều 21/05/2025 với sự tham dự của thủ tướng Phạm Minh Chính cùng quan chức chính phủ, đại sứ Mỹ tại Việt Nam Marc E. Knapper và ông Eric Trump, con trai tổng thống Trump, phó chủ tịch Trump Organization cùng phu nhân. Theo báo Chính phủ, “dự án khu phức hợp đô thị, du lịch sinh thái và sân golf Khoái Châu có diện tích gần 1.000 ha và tổng mức đầu tư trên 1,5 tỷ đô la, bao gồm hệ thống sân golf VIP 54 hố, khu nghỉ dưỡng, biệt thự cao cấp, quần thể đô thị hiện đại và các tiện ích theo tiêu chuẩn quốc tế”.
Đọc thêmSân gôn Trump tại Việt Nam : Đất nông dân đổi lấy dự án gây tranh cãi
Tuy nhiên, sau một năm, dự án bị chậm tiến độ do vướng mắc về đền bù giải phóng mặt bằng. Nhiều hộ dân cho biết mức bồi thường 80.000 đồng/m2, cùng với 240.000 đồng/m2 để “chuyển đổi nghề” (tổng cộng 320.000/m2) là quá thấp, không như lời hứa “bồi thường thỏa đáng” của thủ tướng Phạm Minh Chính tại lễ động thổ. Một số hãng tin Reuters và Financial Times của Anh, Le Monde của Pháp, Bloomberg của Mỹ phản ánh bất bình của người dân trong diện giải tỏa, tranh cãi liên quan đến việc chính quyền tỉnh Hưng Yên cắt giảm chi phí bồi thường. Nhật báo Pháp Le Monde nhận được một bức thư nặc danh từ nội bộ chính phủ Việt Nam bày tỏ bất bình và nêu những nghi ngờ tham nhũng, quan hệ lợi ích nhóm trong dự án.
Sau khi không thực hiện được hạn chót là ngày 30/04 để thu hồi đất, tỉnh Hưng Yên thông báo cho các hộ dân trong diện giải tỏa là nếu không chấp hành yêu cầu bàn giao đất, họ sẽ phải đối mặt với rủi ro cưỡng chế từ sáng 26/06/2026. Hãng tin Mỹ Bloomberg tiếp cận được văn bản này. Chủ đầu tư cũng đẩy nhanh tiến độ vì trước đó, chủ tịch Tổng công ty Phát triển Đô thị Kinh Bắc tuyên bố sân golf Trump có thể đăng cai Hội nghị thượng đỉnh Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương - APEC năm 2027 và hy vọng tổng thống Trump tham dự. - Sôcôla là một món ăn nay đã quá quen thuộc với người Việt Nam, nhưng chắc là không có mấy ai hiểu rõ về nguồn gốc của hạt cacao làm nên sôcôla, về lịch sử phát triển của sôcôla, cũng như về những đặc tính của cacao được trồng tại Việt Nam. Chính là nhằm mục đích quảng bá những kiến thức về sôcôla và cacao mà ông Francesco Trần Văn Liêng, tổng giám đốc Công ty Cổ phần Ca cao Việt Nam (Vinacacao), đã lập ra La Maison du chocolat, Bảo tàng sôcôla Việt Nam.
Nằm tại Bình Hưng, ngoại ô Sài Gòn, với diện tích khoảng 4.000m², được khai trương vào tháng 4 vừa qua, La Maison du Chocolat trước hết đưa chúng ta trở về nguyên thủy của cây cacao ở vùng Trung Mỹ, được thể hiện qua bức tượng của một vị thần. Hướng dẫn chúng tôi trong một chuyến tham quan riêng, ông Francesco Trần Văn Liêng giải thích:
“Đây là thần Ek Chuah. Người Maya và ở Trung Mỹ tự hào đây là thánh phù hộ cho ngành ca cao của họ ngay từ đầu và thực chất thì cây ca cao xuất phát từ Trung Mỹ, nơi mà văn minh của người Maya cũng gắn liền với văn minh của cây ca cao. Họ tự hào đó là “food of the God”, “thực phẩm Trời cho”. Họ sống vui vẻ, hòa mình với thiên nhiên và xây dựng một xã hội khá vững vàng trên nền tảng là hạt cacao và văn hóa xung quanh hạt cacao đó.
Câu chuyện bắt đầu khi Christopher Columbus sang. Thứ nhất rõ ràng là Christopher Columbus đi với tư cách là hòa bình, nhưng thực sự cái hòa bình đó cũng ngắn hạn thôi. Thực tế là triều đình Tây Ban Nha gửi một đoàn quân sang và cuộc diệt chủng đầu tiên trên thế giới là diệt chủng người da đỏ và bây giờ người da đỏ đã tản mát ở Mêhicô, Honduras, thậm chí là ở Hợp chủng quốc Hoa Kỳ.
Nhưng hạt cacao không bị khuất phục, hạt cacao sang châu Âu để tái chinh phục người châu Âu. Lúc đầu nó được dùng trong giới quý tộc và tăng lữ thôi, tại vì hạt này ngon quá, khi ăn thì người ta cảm thấy hưng phấn, vui vẻ. Nhưng nó được giữ rất kín cho đến khi cha con Joseph Fry ở Anh bắt đầu làm ra thanh sôcôla đầu tiên. Khi làm được thanh sôcôla đầu tiên rồi thì giới bình dân mới tiếp cận. Và khi tiếp cận rồi thì nó bùng nổ thành một thức uống chinh phục cả châu Âu.”
Theo dòng lịch sử của hạt cacao, được tái hiện trên những bức tường, La Maison du chocolat đưa khách tham quan đến những quốc gia tiêu biểu của ngành sôcôla thế giới để hiểu được tính chất phong phú, đa dạng của sản phẩm này. Ông Francesco Trần Văn Liên cho biết:
“La Maison du chocolat cố gắng tái hiện lại những mẫu sôcôla thời xưa hoặc thời cận đại của các dân tộc trên thế giới. Ví dụ người Đan Mạch hay dùng “creamy milk”. Họ rất thích sữa, cho nên nhiều khi mình khó phân biệt là ăn sôcôla hay ăn sữa! Rồi tới praline của Bỉ. Người Bỉ thì rất hãnh diện là đã đưa hạt vào và làm cho sôcôla trở nên ngon hơn, thơm hơn và có nhiều dinh dưỡng hơn. Người Thụy Sĩ thì đặc biệt thích ăn sôcôla rất mịn. Và đây là thanh sôcôla đầu tiên mà mà gia đình người Anh nhà Fry làm. Ban đầu nó không ngon, đắng nghét, tại vì không có sữa.
Chúng tôi muốn khách tham quan hiểu được trên thế giới không phải chỉ có một cách ăn sôcôla, mà rất nhiều cách ăn. Ví dụ người Hà Lan có hot dark chocolate mà họ tự hào, nhưng phải là “pure”, tức là rất là tinh túy về hương vị sôcôla. Pháp cũng làm ra được praline giống như Bỉ, vì Pháp và Bỉ thì văn hóa gần nhau. Và trong thế giới ẩm thực của Pháp thì có quá nhiều sáng tạo. Đế quốc Ottoman là một đế quốc huy hoàng của Thổ Nhĩ Kỳ, nhưng họ thích ăn với pistachio, tức là hạt dẻ cười. Hạt dẻ cười cũng là một vật phẩm rất quý tại địa phương của họ. Ý thì tự hào là họ có Gianduja, pha sôcôla ới hạt hazelnut ( hạt phỉ ), ra một thương hiệu riêng đó là Gianduja.
Tôi muốn giới thiệu với anh khu vực Trung Mỹ. Đầu tiên, chữ "sokalat" là do người Maya đặt ra và họ cũng có một thức uống rất điển hình thời đó, cách đây ngàn năm. Lúc đó công nghệ đâu có mạnh để nghiền rất mịn đâu. Họ chỉ là đập dập ra là uống. Nhưng đó là một thức uống bồi bổ sức khỏe cho những binh lính da đỏ để chiến đấu rất mãnh liệt với người Tây Ban Nha.”
Đến với La Maison du chocolat, khách tham quan sẽ có dịp tìm hiểu về lịch sử của ngành cacao Việt Nam, để biết rằng loại cây này cũng chính là do người Pháp du nhập vào Việt Nam, theo lời ông Francesco Trần Văn Liêng:
“Đầu thế kỷ 20, khoảng năm 1900, có một người Pháp tên là Jean-Baptiste Louis Pierre đem cây ca cao vào Thảo Cầm Viên Sài Gòn cùng thời với cây cà phê và cây cao su. Khi đưa vào Thảo Cầm Viên thì thấy khá là ổn và ông tiếp tục phát triển ở đồng bằng sông Cửu Long, nơi có đất tốt, mưa nhiều, có nhiều tưới tiêu và và không có nhiều biến cố như bảo tố. Tại vì cây ca cao rất là cao, lá rất là to, gió nhiều nó sẽ gãy. Nhưng miền Nam cũng là vùng có nhiều chiến tranh, loạn lạc, người dân di cư rất nhiều, cho nên cây ca cao không phát triển mạnh vào đầu thế kỷ 20. Mãi tới khoảng năm 2000, người Hà Lan bắt đầu viện trợ lại cho nông dân đồng bằng sông Cửu Long để tái lập lại các vườn ca cao xen với vườn dừa.
Cây cacao thật ra là cây ăn trái, không phải là cây công nghiệp như cà phê. Cacao trước hết ra trái, trái phải được ủ, ủ xong mới lấy hạt để làm sôcôla. Để trái tốt thì đất phải tốt. Đồng bằng sông Cửu Long được xem là đất rất tốt. Và thứ hai là phải được tưới tiêu rất nhiều. Nhiều người lầm tưởng cây ca cao giống cà phê, nhưng thực sự nó rất là khác. Cây ca cao có thể sống tới 40 năm, thành cây cổ thụ rất lớn, như xoài, mít, mận, ổi. Đó lý do tại sao miền Nam có vẻ thích hợp hơn. Với lại cây cacao mà bị khí hậu lạnh thì nó chết. Gặp lạnh 18 độ thì nó sẽ đứng, rồi sau đó nếu nhiệt độ xuống nữa thì nó có thể bắt đầu rụng lá và chết.”
Bảo tàng sôcôla cũng lưu giữ những dấu ấn của doanh nghiệp người Bỉ Ghicha Safarian, người đã thành lập công ty Puratos Grand-Place Việt Nam, hoạt động tại Việt Nam từ năm 1994. Đến đầu năm 2011, Puratos Grand-Place Việt Nam đã ra mắt loại sôcôla đầu tiên được sản xuất hoàn toàn tại Việt Nam, từ khâu trồng ca cao cho đến thành phẩm cuối cùng. Cho đến nay, đây là nhà sản xuất đầu tiên tại Việt Nam tích hợp chuỗi cung ứng ca cao vào quy trình sản xuất của mình. Nhưng so với những “cường quốc cacao” như Côte d’Ivoire và Ghana, thế mạnh của cacao Việt Nam là ở những mặt nào, ông Francesco Trần Văn Liêng giải thích:
“Hiện nay Côte d’Ivoire và Ghana ở Phi Châu vẫn chiếm khoảng 75% sản lượng hạt cacao trên thế giới. Nhưng Côte d’Ivoire và Ghana thì ít sông ngòi và ít màu mỡ, cho nên hạt cacao có mùi hương nutty ( hương hạt dẻ ), như mùi gỗ, mùi mật ong, cũng ngon. Nhưng cacao socola Việt Nam được trồng ở đồng bằng, đất tốt mưa nhiều, phù sa, cho nên hạt to hơn, cơm bao nhiều hơn và hậu vị hơi chua ngọt, giống như cà phê arabica thì hơi chua một chút, cho nên nó mang tính chất fruity và độ thơm của nó thì cũng phản ánh vùng đất.
Cho nên cacao Việt Nam có khuynh hướng dùng để làm sôcôla, còn cacao của Côte d’Ivoire và Ghana thì có khuynh hướng nghiền ra để làm bột. Tóm lại, cacao Việt Nam nổi bật hơn ở những điểm sau đây: fruity, mùi sôcôla nhiều hơn, học hỏi được cách lên men của Bỉ cho nên cho vị men thơm hơn, nhưng bù lại thì sản lượng thấp hơn và vì diện tích canh tác ít thành ra sự phát triển chậm chạp hơn. Thống trị trên thế giới về số lượng vẫn là Côte d’Ivoire và Ghana. Nhưng nhiều người làm chocolate boutique ở Bỉ, Pháp, Hà Lan mua hạt cacao của Việt Nam để làm hương vị riêng của họ. Giá của hạt cacao Việt Nam luôn giữ cao bởi vì cũng có nhu cầu.
Riêng Vinacacao có những dòng sản phẩm rất dễ ăn, như là cốm gạo Hà Nội, sôcôla ngọt, hoặc là sôcôla yaourt. Ngoài hữu cơ ( organic ), dòng sản phẩm của Vinacacao còn được gọi là single origin, tức là 100% sôcôla ở Việt Nam. Giống như rượu vang Pháp, nho trồng ở đâu thì nó quyết định vị ngon của nó. Hiện nay Vinacao phát triển dòng mạnh nhất vừa là hữu cơ, vừa có lợi cho sức khỏe, tức là không dùng đường.
Ngoài sôcôla thì Vinacacao phát triển rất nhiều dòng sản phẩm bột để dễ uống, chỉ cần pha với cà phê thôi. Đặc biệt là sản phẩm này kết hợp với Hà Lan để ra một dòng bột tương đối cao cấp cho thị trường Việt Nam và cho xuất khẩu. Ở Việt Nam bây giờ cũng có nhiều khách sạn năm sao và khu nghỉ dưỡng resort tìm cái loại bột cacao chất lượng để làm bánh."
Khách tham quan đến với La Maison du chocolat còn được tận mắt nhìn thấy cây cacao được trồng trong vườn, hạt cacao được ủ như thế nào, được phơi ra sao. Mọi người cũng sẽ có dịp thưởng thức những sản phẩm được chế biến từ cacao Việt Nam, trong đó có cả những thức uống. Đây cũng là nơi mà người lớn và trẻ em có thể đến để tự tay chế biến những thanh sôcôla, còn các trường có thể gởi học sinh đến trong những buổi học ngoại khóa để các em tìm hiểu về thực phẩm đầy thú vị này.
About Tạp chí Việt Nam
Những vấn đề, sự kiện đang được dư luận quan tâm ở Việt Nam
Podcast website