PodcastsTạp chí Việt Nam

Tạp chí Việt Nam

Tạp chí Việt Nam
Latest episode

79 episodes

  • Chiến tranh Trung Đông khiến Việt Nam phải dựa nhiều hơn vào điện than

    22/06/2026
    Cũng như nhiều nước khác, trước tình hình nguồn cung dầu hỏa bị gián đoạn do chiến tranh Mỹ-Iran, để bảo đảm an ninh năng lượng, Việt Nam buộc phải dựa vào điện than nhiều hơn cho dù làm như vậy sẽ càng khó mà thực hiện các cam kết về chống biến đổi khí hậu.
    Theo Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA), hơn 80% lượng dầu thô và khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) đi qua eo biển Hormuz là được xuất khẩu sang châu Á. Việc tuyến hàng hải này bị phong tỏa đẩy khu vực vào tình thế vô cùng khó khăn. Đặc biệt, do nguồn cung khan hiếm, giá khí LNG đã tăng vọt ở thị trường châu Á, trong khi giá than tăng ít hơn nhiều, cho nên nhiều nước trong khu vực quay trở lại với điện than. 
    Trả lời RFI Việt ngữ ngày 12/05/2026, giáo sư Phạm Duy Hiển, nguyên Viện trưởng Viện nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt, cũng ghi nhận đây là tình hình chung của các nước châu Á:
    “Không chỉ riêng Việt Nam mà hầu hết nhiều nước ở châu Á và các nước lớn như Trung Quốc, Ấn Độ ... đều bị tác động. Trung Quốc là một nước có rất nhiều than, cho nên có lợi thế. Bây giờ họ quay sang sử dụng than nhiều hơn trong một thời gian, tuy cũng biết làm như thế là ảnh hưởng đến lời hứa của Trung Quốc về cắt giảm khí thải gây hiệu ứng nhà kính.
    Các chuyên gia, các công ty về quản lý năng lượng lớn thế giới đều dự báo Trung Quốc trong 5 năm tới vẫn phải dựa vào việc mở rộng các nhà máy điện chạy than, chứ không có cách nào khác cả. Ấn Độ cũng vậy. Còn những nước như Hàn Quốc và Nhật Bản trước tình hình hiện nay đều phải cho phép nâng lên tỷ lệ điện than.” 
    Theo nhận định của Discovery Alert, trang thông tin chuyên về khai thác mỏ trên thế giới, trong bài viết đăng ngày 13/04/2026, “không giống như các quốc gia phát triển có các nguồn năng lượng đa dạng và dự trữ chiến lược dồi dào, các nền kinh tế nhỏ hơn như Việt Nam thường phụ thuộc nhiều vào nhiên liệu nhập khẩu và thiếu tính linh hoạt về cơ sở hạ tầng để nhanh chóng chuyển đổi giữa các nguồn năng lượng trong trường hợp khẩn cấp về nguồn cung. Hơn nữa, các quốc gia này còn đối mặt với tác động của thị trường khí hóa lỏng (LNG) và sự biến động giá dầu, làm trầm trọng thêm tính dễ bị tổn thương của kinh tế.” 
    Discovery Alert ghi nhận việc Việt Nam dựa vào điện than khi chiến tranh Mỹ-Iran leo thang đã trở nên rõ nét trong tháng 3/2026, khi sản lượng điện than tăng vọt, chiếm 56% tổng sản lượng điện, mức cao nhất kể từ giữa năm 2025.
    Giáo sư Phạm Duy Hiển cho rằng trong thời gian tới, Việt Nam sẽ phải tiếp tục dựa nhiều vào điện than, vì các nguồn điện năng khác không đủ để đáp ứng nhu cầu:
    “Việt Nam hiện nay đã sống với điện than. Điện than bình thường chiếm tỷ lệ gần 50% công suất phát điện, cho nên Việt Nam cũng bị ảnh hưởng. Mà về điện than, Việt Nam phải đi mua thêm than của các nước như Indonesia và Trung Quốc, cụ thể là tháng 3 vừa rồi đã nhập đến mấy triệu tấn than. Dự kiến con số đó có thể sẽ phải tăng lên. Kinh phí để nhập khẩu than cũng lớn, nhưng bây giờ dầu sao thì vẫn hơn là không có. Cho nên tạm thời trong một thời gian phải sử dụng điện than và theo tôi nghĩ Việt Nam cũng chưa có cách nào khác.
    Còn nếu dựa vào những nguồn năng lượng khác, thì bây giờ nguồn năng lượng tái tạo cũng đã được khai thác khá nhiều rồi và cũng có tác dụng nhất định. Nhưng nguồn năng lượng này cũng hạn chế, không thể nâng lên nhiều hơn nữa. 
    Gần đây nhiều người nói về điện hạt nhân. Nếu có được thì điện hạt nhân sẽ là một giải pháp tương đối lớn để giải quyết vấn đề thiếu điện thay cho than. Đó là một loại năng lượng sạch. Thế nhưng chưa biết là bao giờ mới có thể đặt bút ký với một đối tác bên ngoài để cung cấp nhà máy điện hạt nhân cho mình. Từ thời điểm đó thì sau hàng chục năm nữa may ra mới có điện.
    Kinh nghiệm của Bangladesh cho thấy nước này bắt đầu có kinh phí để xây dựng và có các hợp đồng liên chính phủ là vào năm 2017. Nhưng tới cuối năm 2026 thì may ra mới có thể đưa điện lên lưới được. Gần đây thế giới cũng hô hào đẩy mạnh điện hạt nhân, nhưng điện hạt nhân đâu có dễ làm đối với Việt Nam cũng như đối với những nước khác . Đó không phải là một công nghệ có sẵn như than. Nhà máy điện chạy than thì quá là cổ điển rồi, mua về là có thể lắp đặt và cho chạy được ngay. Còn điện hạt nhân thì cần bao nhiêu thứ: cơ sở hạ tầng, năng lượng, nhiên liệu, an toàn…. 
    Bây giờ có một hy vọng là khí thiên nhiên từ các mỏ khí mới được phát hiện được, sẽ giúp giải quyết vấn đề cân bằng năng lượng ở Việt Nam."
    Thế nhưng vấn đề là hiện nay công suất điện khí còn khiêm tốn của Việt Nam càng làm hạn chế các giải pháp thay thế trong thời kỳ khủng hoảng. Các nhà máy điện khí chỉ sản xuất được 2,1 TWh trong tháng 3 năm 2026, chiếm khoảng 7% tổng sản lượng điện. Hạn chế về cơ sở hạ tầng này có nghĩa là khí đốt tự nhiên không thể đóng vai trò cơ chế thay thế tức thời khi giá năng lượng nhập khẩu tăng vọt, hoặc khi nguồn cung bị gián đoạn. 
    Việt Nam cũng đang phải sản xuất than nhiều hơn để đáp ứng cho các nhà máy nhiệt điện. Theo báo chí trong nước, ngày 15/04, bộ Nông Nghiệp và Môi Trường đã đề nghị chính phủ cho phép tăng công suất khai thác than, cụ thể là cho phép khai thác vượt không quá 15% công suất đối với các giấy phép khai thác than đang còn hiệu lực, nhằm đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia. Theo bộ này, “than trong nước tiếp tục giữ vai trò là nguồn năng lượng nền tảng và năng lực khai thác thực tế của các mỏ còn dư địa để tăng sản lượng”. 
    Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng II ở tỉnh Hà Tĩnh cũng vừa được khánh thành ngày 18/04. Đây là dự án hợp tác giữa Nhật Bản và Hàn Quốc, trong đó 60% cổ phần thuộc về các công ty Nhật Bản đứng đầu là tập đoàn Mitsubishi và 40% cổ phần thuộc về Tập đoàn Điện lực Hàn Quốc. Với tổng công suất hơn 1.300MW, Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng II được giới thiệu là sử dụng “công nghệ hiện đại nhất đối với các nhà máy nhiệt điện than tại Việt Nam”, làm giảm lượng tiêu hao nhiên liệu dẫn đến cắt giảm phát thải.
    Vấn đề đặt ra là phải làm sao hạn chế tác động của các nhà máy điện than đối với môi trường và khí hậu, bởi vì Việt Nam còn phải thực hiện những cam kết với quốc tế về chống biến đổi khí hậu. Giáo sư Phạm Duy Hiển ghi nhận:
    “Các nhà máy điện chạy than bây giờ cũng sử dụng những công nghệ tương đối là tiên tiến, tránh ô nhiễm môi trường. Ô nhiễm môi trường nay cũng đỡ một phần là bởi vì ngày xưa các nhà máy phát ra bừa bãi từ ống khói chứ bây giờ thì có những quy chế nhất định. Các khí thải từ nhà máy điện than thì cũng đã bắt đầu được xử lý để không gây ô nhiễm môi trường. Rồi còn phải xử lý những xỉ than. Lâu lâu thì vẫn thấy nói có ô nhiễm chỗ này chỗ khác, nhưng tôi chắc là dần dần rồi cũng phải giải quyết. Ô nhiễm ở chỗ nào thì người dân ở đó sẽ phản ảnh, các cơ quan có trách nhiệm phải giải quyết.
    Thực ra mà nói thì dùng điện than không chỉ làm tăng lượng khí CO2, mà còn có rất nhiều khí độc khác từ nhà máy điện than thải ra. Trung Quốc đã thành công trong vấn đề này, cho nên bắt đầu từ 2006, tức là cách đây đến 20 chục năm, họ đã có quyết định của nhà nước là bắt buộc giảm phát thải các cái khí độc từ các nhà máy điện chạy than. Và họ đã thành công nhiều, tức là giảm ô nhiễm khá nhiều. Thế thì bây giờ nếu sản lượng điện than nhiều quá, thì có lẽ cũng phải đề nghị nhà nước có một cách kiểm tra toàn diện, làm thế nào để các khí phát thải ô nhiễm, không chỉ CO2 và các khí ô nhiễm khác đều thấp, phù hợp với các tiêu chuẩn về môi trường ở Việt Nam." 
    Cũng theo chiều hướng đó, Việt Nam dự kiến sẽ đóng cửa các nhà máy điện than cũ trên 40 năm tuổi, nếu các nhà máy này không thể chuyển đổi sang sử dụng nhiên liệu sạch như hydrogen, amoniac xanh. Cụ thể, ngày 23/03, chính phủ Hà Nội đã phê duyệt "Đề án cập nhật triển khai tuyên bố chính trị thiết lập quan hệ đối tác chuyển đổi năng lượng công bằng" (JETP).   Sau năm 2030, chính phủ yêu cầu không xây mới nhà máy điện than, đồng thời đàm phán đóng cửa với các nhà máy có tuổi thọ trên 40 năm, không thể chuyển đổi nhiên liệu và không thể đáp ứng lộ trình giảm thải khí nhà kính.
  • Việt Nam : Mắt xích quan trọng trong chiến lược thay đổi quốc phòng của Nhật Bản

    15/06/2026
    Tháng 04/2026, Nhật Bản “sửa đổi ba nguyên tắc về chuyển giao các thiết bị và công nghệ quốc phòng” để xây dựng chiến lược quốc phòng mới, trong đó có mục đích mở rộng hoạt động xuất khẩu sang cả các loại vũ khí sát thương. Một cơ chế mới cũng đã được thành lập - Chương trình Hỗ trợ an ninh chính thức (OSA) - nhằm mục đích thúc đẩy hợp tác kỹ thuật và trang thiết bị quốc phòng. Và Việt Nam được Nhật Bản xác định là ứng cử viên ưu tiên trong chương trình OSA.
    Những thay đổi mới trong chính sách quốc phòng của Nhật Bản có tạo thêm những cơ hội mới cho hợp tác với Hà Nội trong lĩnh vực này không ? RFI Tiếng Việt phỏng vấn nghiên cứu sinh Nguyễn Thế Phương, chuyên về lĩnh vực an ninh hàng hải, Đại học New South Wales, Úc.
    RFI : Trả lời báo tài chính Nikkei Asia ngày 23/04/2026, ông Minoru Kihara, chánh văn phòng thủ tướng Nhật Bản, cho biết Tokyo đã cho phép “sửa đổi ba nguyên tắc về chuyển giao các thiết bị và công nghệ quốc phòng”. Nội dung chính sách mới của Nhật Bản là gì? Tại sao Tokyo lại thay đổi chính sách vào thời điểm này ?
    Nguyễn Thế Phương : Sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, toàn bộ tư duy chiến lược của Nhật là tập trung vô phát triển kinh tế nội địa và tư duy chiến lược của Nhật là chủ hòa.
    Việc Nhật Bản thay đổi “ba nguyên tắc về chuyển giao các thiết bị quốc phòng” nằm trong sự thay đổi căn bản trong tư duy quốc phòng, văn hóa chiến lược của họ kể từ khoảng đầu thế kỷ thứ XXI với sự trỗi dậy của Trung Quốc, môi trường an ninh khu vực diễn biến ngày càng phức tạp : Sự gia tăng sức mạnh của các hoạt động đơn phương mà nhiều học giả nói là “cố tình thay đổi trạng thái trật tự” của Trung Quốc, đặc biệt là những vấn đề tranh chấp trên biển. Đối với Nhật Bản, một trong những mối nguy nữa, đó là mối đe dọa từ Bắc Triều Bắc.
    Cũng nói thêm một chút, nước Mỹ dưới thời Donald Trump mong muốn đồng minh, đặc biệt là những đồng minh hiệp ước của họ, có những chính sách và có tiếng nói mạnh mẽ hơn trong việc tự lực xây dựng năng lực quốc phòng, chứ không còn hoàn toàn dựa vào Mỹ với tư cách là một quốc gia bảo trợ an ninh nữa.
    Điểm thứ ba là điểm mà nhiều người bỏ qua, đó là Nhật Bản cần một cách tiếp cận mới hơn để làm mới ngành công nghệ quốc phòng trong nước. Bởi vì từ trước tới nay, Nhật Bản cấm xuất khẩu trang thiết bị quốc phòng và vũ khí ra nước ngoài. Toàn bộ hạn chế về mặt xuất khẩu này khiến cho ngành công nghiệp Nhật, đặc biệt là công nghiệp quốc phòng, bị hạn chế tính cạnh tranh, đặc biệt trong bối cảnh hiện nay, với những cuộc xung đột khắp nơi trên thế giới thì thị trường vũ khí bắt đầu mang lại lợi nhuận rất lớn. Và Nhật Bản dường như cũng muốn bắt đầu thay đổi cách tiếp cận và tham gia vào thị trường công nghiệp quốc phòng chủ động hơn.
    Đọc thêmViệt Nam, Nhật Bản "mạnh mẽ" chống lại việc làm thay đổi nguyên trạng các vùng biển trong khu vực
    Và cuối cùng là yếu tố nội bộ, đó là sự thay đổi về mặt tư duy của liên minh cầm quyền Nhật Bản, bắt đầu từ thời Shinzo Abe. Cách đây khoảng 10-15 năm, đảng Dân Chủ Tự Do đề xuất Chiến lược Ấn Độ-Thái Bình Dương. Việc này cho thấy rằng đảng Dân Chủ Tự Do mong muốn đưa nước Nhật ra khỏi tư duy chủ hòa và tham gia nhiều hơn về việc tái định hình cấu trúc an ninh khu vực.
    Đây là bốn điểm tạm gọi là “bốn nền tảng” để giải thích tại sao Nhật Bản bắt đầu phải thay đổi nguyên tắc về chuyển giao thiết bị công nghệ quốc phòng.
    Với việc thay đổi nguyên tắc mới, họ sẽ bắt đầu không giới hạn thiết bị chuyển giao, mà sẽ mở rộng tới những loại trang thiết bị có thể là sát thương, ví dụ vũ khí tấn công, xe tăng, máy bay và những trang bị khác.
    Điểm thứ hai, Nhật Bản cho phép hợp tác phát triển các loại vũ khí song phương, một ví dụ ở đây là phát triển máy bay chiến đấu thế hệ thứ năm giữa Nhật, Anh và Ý. Điểm này sẽ cho phép Nhật chủ động hơn, thích ứng linh hoạt hơn trong chính sách phát triển công nghiệp quốc phòng.
    RFI : Việt Nam thiết lập quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với Nhật Bản. Việt Nam là quốc gia thứ 11 ký một thỏa thuận chuyển giao thiết bị, công nghệ quốc phòng với Nhật Bản. Cho đến nay, Tokyo hỗ trợ Hà Nội như thế nào trong khuôn khổ này ?
    Nguyễn Thế Phương : Trước đây, việc hỗ trợ về mặt chuyển giao thiết bị hoặc công nghệ quốc phòng song phương, chủ yếu Việt Nam sẽ là bên nhận. Những hỗ trợ này chủ yếu xoay quanh việc nâng cao năng lực nhận thức hàng hải, an ninh biển và chủ yếu liên quan đến những loại trang thiết bị vũ khí phi sát thương.
    Điểm nổi bật thứ nhất là việc chuyển giao tàu tuần tra và phương tiện giúp Việt Nam có thể cải thiện năng lực tuần tra hàng hải, tiêu biểu là việc Việt Nam nhận một số loại tàu cảnh sát biển loại biên của Nhật Bản. Những tàu này thực ra vẫn rất tốt và vẫn phục vụ rất hiệu quả trong quá trình Việt Nam bảo vệ lợi ích trên biển ở thời điểm hiện tại. Đây là khoản hỗ trợ lớn nhất.
    Đọc thêmViệt Nam, Nhật Bản đạt thỏa thuận về chuyển giao công nghệ quốc phòng
    Thứ hai là thiết bị giám sát công nghệ hàng hải, ví dụ radar, các thiết bị lặn, công nghệ viễn thám, thông tin liên lạc phục vụ cho quá trình tìm kiếm, cứu nạn, giám sát thực địa trên biển.
    Và thứ ba là đào tạo, nâng cao năng lực chuyên môn cho các lực lượng của Việt Nam, đặc biệt là lực lượng cảnh sát biển và kiểm ngư. Đây là điểm mà hai bên thường xuyên tiến hành : Trao đổi đoàn, trao đổi tàu, lực lượng Việt Nam qua Nhật Bản để tập huấn. Ở đây tập trung vào một số vấn đề phi tác chiến, ví dụ quân y, phá bom mìn, khắc phục hậu quả chiến tranh, an ninh mạng. Đối với quân đội còn có gìn giữ hòa bình.
    Đó là ba mảng mà Việt Nam nhận được hỗ trợ có thể nói là rõ ràng nhất từ Nhật Bản thông qua chương trình chuyển giao thiết bị và công nghệ quốc phòng.
    RFI : Việt Nam được Nhật Bản xác định là ứng cử viên ưu tiên cho Chương trình Hỗ trợ an ninh chính thức (OSA). Anh có thể giải thích OSA là gì ? Theo một quan chức chính phủ Nhật Bản, “quá trình này đôi khi có thể mất thời gian”. Những nước được chọn để hợp tác an ninh thông qua OSA có vai trò như thế nào trong chiến lược của Nhật Bản ?
    Nguyễn Thế Phương : OSA (Official Security Assistance) là hỗ trợ an ninh chính thức. Đây là một trong những chương trình rất mới, là một công cụ đối ngoại rất mới của Nhật, được thông qua trong chiến lược an ninh quốc gia cuối năm 2022.
    ODA, là một khái niệm mà chúng ta rất quen thuộc, chỉ giới hạn nghiêm ngặt (ở đây từ “nghiêm ngặt” là từ quan trọng) cho phát triển kinh tế-xã hội. Cho nên nếu như Nhật Bản muốn hỗ trợ về mặt an ninh quốc phòng cho các quốc gia khác thì họ phải tạo ra một cơ chế hoàn toàn mới, chứ không phải là ODA. Thì OSA chính là kết quả. Nói một cách đơn giản OSA chính là ODA nhưng chỉ được dùng cho lĩnh vực an ninh và quân sự.
    Quá trình này rất mất thời gian bởi vì Nhật Bản sẽ phải thiết lập quy trình khảo sát nhu cầu của bên nhận, đối chiếu nhu cầu đó với pháp luật nội bộ của Nhật, mà chúng ta biết là pháp luật của Nhật về mặt này rất khắt khe. Và nó yêu cầu cả bên cho - ở đây là Nhật - và cả bên nhận - là các quốc gia khác - phải thảo luận rất lâu và rất kỹ để có thể đưa ra được một danh sách tiếp nhận các loại hỗ trợ cho phù hợp.
    Đọc thêmNhật Bản và Việt Nam tăng cường hợp tác an ninh, ủng hộ thương mại tự do
    Danh sách các quốc gia được hỗ trợ và có tiềm năng nhận được hỗ trợ OSA từ Nhật Bản vào thời điểm hiện tại chỉ tầm 12 nước, chủ yếu là các nước ở Ấn Độ Dương, Thái Bình Dương, trong đó có 5 nước Đông Nam Á (Philippines, Indonesia, Malaysia, Việt Nam và Thái Lan). Nam Á có hai nước là Bangladesh với Sri Lanka. Ngoài ra còn một số quốc đảo Thái Bình Dương, ví dụ Papua New Guinea, Tonga. Có thể thấy rõ là có Đông Nam Á, khu vực cốt lõi trong chiến lược Ấn Độ-Thái Bình Dương của Nhật Bản, và đặc biệt là khu vực các quốc đảo Nam Thái Bình Dương hiện đang là khu vực cạnh tranh địa lý khá gay gắt giữa các quốc gia đồng minh của Mỹ và Trung Quốc.
    Gần đây, Tokyo tăng ngân sách dành cho OSA trong năm tài khóa 2026 lên tầm 112 triệu đô la. Số lượng sẽ không lớn đứng dưới góc độ về mặt ngân sách. Nhưng trong tương lai, ngân sách mà Nhật dành cho OSA sẽ ngày càng tăng và sẽ dựa vào khả năng nước Nhật thích ứng với sự thay đổi không ngừng của môi trường an ninh bên ngoài, cũng như trong chính sách đối nội của Nhật Bản, đặc biệt là việc Nhật điều chỉnh ba nguyên tắc hỗ trợ vũ khí và công nghệ quốc phòng. Trong tương lai, số lượng nước được nhận sẽ tăng lên, cũng như nội dung của OSA cũng sẽ được mở rộng hơn.
    RFI : Với chiến lược quốc phòng mới của Tokyo mở ra việc bán vũ khí sát thương, liệu trong tương lai, có thể có một chương trình hợp tác sâu rộng hơn về lĩnh vực này giữa Việt Nam và Nhật Bản ?
    Nguyễn Thế Phương : Nhiều người kỳ vọng rằng hợp tác giữa Việt Nam và Nhật Bản trong tương về chuyển giao trang thiết bị cũng như là hỗ trợ OSA của Nhật Bản đối với Việt Nam sẽ được mở rộng. Tuy nhiên như đã trình bày, quá trình này sẽ không nhanh. Thứ nhất một phần cũng bởi vì phía Nhật Bản, như đã nói, họ sẽ rất kỹ trong vấn đề lựa chọn chuyển giao, tính minh bạch ra sao.
    Đọc thêmNhật Bản và Việt Nam nâng cấp quan hệ lên thành đối tác chiến lược toàn diện
    Thứ hai, nhu cầu của Việt Nam ở đây là gì ? Nhu cầu Việt Nam vẫn sẽ có. Nhưng theo tôi, trong tương lai gần, khoảng 5 năm, hợp tác quốc phòng giữa Việt Nam và Nhật Bản cũng sẽ chủ yếu xoay quanh nội dung về an ninh hàng hải, hỗ trợ các loại tàu cảnh sát biển, hỗ trợ Việt Nam đóng một số loại tàu cho cảnh sát biển hoặc là cho kiểm ngư ở trong nước, nhận một số loại trang thiết bị liên quan tới bảo đảm an ninh hàng hải, cũng như là nhận thức hàng hải ở khu vực, hỗ trợ liên quan tới vệ tinh chẳng hạn và tiếp tục huấn luyện.
    Còn những vũ khí tác chiến, theo tôi, sẽ phải là tương lai xa, cho tới khi nào Nhật Bản hoàn toàn dỡ bỏ những hạn chế về mặt xuất khẩu vũ khí tiến công và cho tới khi nào ngành công nghiệp quốc phòng của Nhật Bản trở nên cạnh tranh hơn, thì khi đó Việt Nam mới bắt đầu xem xét có hay không lựa chọn các loại vũ khí tác chiến của Nhật Bản như là một lựa chọn trong quá trình hiện đại hóa quân đội. Còn ở thời điểm hiện tại, khả năng đó rất là thấp.
    RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn anh Nguyễn Thế Phương, Đại học New South Wales, Úc.
  • Công ước Hà Nội và phòng chống tội phạm mạng ở Việt Nam

    08/06/2026
    Ngày 07/04/2026, tổng bí thư Đảng kiêm chủ tịch nước Tô Lâm đã ký quyết định phê chuẩn Công ước của Liên Hiệp Quốc về chống tội phạm mạng (Công ước Hà Nội), đưa Việt Nam trở thành quốc gia đầu tiên ở Đông Nam Á và là nước thứ hai trên thế giới chính thức phê chuẩn Công ước này.
    Công ước mang tên Hà Nội là vì lễ ký Công ước của Liên Hiệp Quốc về chống tội phạm mạng đã được tổ chức tại Hà Nội vào tháng 10/2025. Cho tới nay đã có 75 quốc gia ký công ước này. Tuy nhiên, Công ước Hà Nội sẽ chỉ có hiệu lực một khi có đủ 40 quốc gia chính thức phê chuẩn để trở thành thành viên chính thức. 
    Đông Nam Á nói chung và Việt Nam nói riêng đang ngày càng trở thành một trong những trung tâm của tội phạm mạng trên thế giới. Trong một bài viết đăng trên mạng ngày 09/03/2026, công ty Okta, chuyên về quản lý danh tính ( Identity Management ), cho biết: “Một hệ sinh thái tội phạm mạng rộng lớn bắt nguồn từ Việt Nam đã được liên kết với các chiến dịch đăng ký tài khoản giả mạo quy mô lớn nhắm vào các nhà cung cấp dịch vụ và nền tảng trực tuyến trên toàn thế giới. Các nhà nghiên cứu đã truy tìm hoạt động này đến một cụm cơ sở hạ tầng được đặt tên nội bộ là O-UNC-036, sử dụng địa chỉ email dùng một lần và bot tự động để tạo ra các danh tính kỹ thuật số giả mạo ở quy mô đáng báo động.”
    Theo công ty này, các tội phạm sử dụng những tài khoản trực tuyến gian lận như một cánh cửa để thực hiện các hoạt động tội phạm tài chính, từ thư rác và lừa đảo trực tuyến đến các vụ lừa đảo cá nhân. Các tổ chức tội phạm có tổ chức ở Đông Nam Á, đặc biệt là ở khu vực gần biên giới Trung Quốc, Miến Điện, Thái Lan và Cam Bốt dùng những thủ đoạn này để dụ dỗ nạn nhân vào các vụ lừa đảo tiền điện tử, lừa đảo tình cảm và tống tiền tình dục,...
    Các nhà phân tích của Okta đã xác định được một lượng lớn các đăng ký tài khoản đáng ngờ liên kết với nhiều tên miền email dùng một lần, trở thành sợi dây liên kết quan trọng giữa hoạt động này với một thị trường lừa đảo rộng lớn hơn có trụ sở tại Việt Nam. Thiệt hại về tài chính từ hoạt động này là rất lớn. Trong một báo cáo tháng 4/2025, Văn phòng Liên Hiệp Quốc về Ma túy và Tội phạm (UNODC) đã chỉ ra rằng thị trường ngầm này hiện có những người chuyên buôn bán bộ công cụ lừa đảo, dữ liệu bị đánh cắp, phần mềm độc hại, công cụ dựa trên trí tuệ nhân tạo (AI) và dịch vụ rửa tiền được sử dụng để nhắm mục tiêu vào các nạn nhân trên toàn cầu.
    Chính là để phòng chống những hoạt động lừa đảo trực tuyến như trên mà Công ước Hà Nội thiết lập một khuôn khổ pháp lý quốc tế toàn diện về phòng ngừa, phát hiện, điều tra, truy tố và hợp tác quốc tế trong xử lý tội phạm mạng.
    Trả lời RFI Việt ngữ ngày 22/05/2026, nhà tội phạm học Lương Thanh Hải, giảng viên Trường Tư pháp hình sự và tội phạm học Griffith, Úc và là chủ tịch Hội đồng nghiên cứu về tội phạm ma túy tại châu Á của Viện nghiên cứu AICS (Hoa Kỳ), cho biết Việt Nam đã chuẩn bị như thế nào cho việc tham gia Công ước Hà Nội :
    "Thứ nhất là Việt Nam đã hoàn thiện khung pháp lý nội địa, đặc biệt là trong các lĩnh vực an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu và xử lý chứng cứ điện tử. Có thể nói rằng trong những năm trở lại đây, Quốc Hội của Việt Nam và các cơ quan, trong đó có vai trò rất là lớn bộ Công An Việt Nam, đã điều chỉnh, bổ sung và ban hành các luật, khung pháp lý nội địa rất  kịp thời trong lĩnh vực an ninh mạng và xử lý điện tử, chứng cứ điện tử.
    Thứ hai là Việt Nam đã chuẩn bị khá kỹ trong việc nâng cao năng lực thực thi pháp luật, đặc biệt là đào tạo chuyên sâu cho các lực lượng điều tra tội phạm công nghệ cao. Song song với đó, đầu tư vào các hệ thống cơ sở hạ tầng số cũng rất là ổn định để kịp thời trước lúc tham gia Công ước Hà Nội.
    Thứ ba là tăng cường hợp tác quốc tế thông qua các cơ chế song phương, đa phương mà Việt Nam đã tham gia. Việt Nam không tham gia Công ước Hà Nội một cách hình thức mà đang từng bước thích nghi với các chuẩn mực toàn cầu về quản trị an ninh mạng và phòng chống tội phạm công nghệ cao."
    Công ước Hà Nội quy định đầy đủ các vấn đề từ hình sự hóa hành vi phạm tội, thẩm quyền điều tra, dẫn độ, tương trợ tư pháp, đến bảo vệ dữ liệu cá nhân.
    Các hành vi như truy cập trái phép, đánh cắp dữ liệu, gian lận điện tử, tấn công cơ sở hạ tầng trọng yếu, sử dụng không gian mạng để tài trợ khủng bố hay rửa tiền bằng tài sản số đều được định danh rõ ràng. Quan trọng hơn, Công ước tạo ra “chuẩn mực pháp lý chung”, giúp các quốc gia phối hợp hiệu quả trong xử lý các vụ án xuyên biên giới.
    Việc tham gia Công ước giúp Việt Nam có thêm công cụ pháp lý quan trọng để nâng cao hiệu quả phòng ngừa, phát hiện, điều tra và xử lý tội phạm mạng. Trả lời RFI Việt ngữ, nhà tội phạm học Lương Thanh Hải giải thích:
    "Công ước Hà Nội quy định rất toàn diện các vấn đề về hình sự hóa tội phạm mạng, thẩm quyền điều tra, hợp tác quốc tế, dẫn độ, hỗ trợ tư pháp và bảo vệ dữ liệu và cá nhân. Công ước mang lại cho Việt Nam một số công cụ pháp lý rất quan trọng, đáng chú ý ở đây là chia sẻ thông tin và chứng cứ điện tử nhanh hơn giữa các quốc gia. Có thể nói đây là một trong những    yếu tố then chốt trong điều tra tội phạm mạng xuyên biên giới.
    Ngoài ra, Công ước Hà Nội còn hỗ trợ cho phía Việt Nam và các cơ quan tư pháp hình sự của Việt Nam hài hòa các định nghĩa, các cách tiếp cận về pháp lý liên quan đến tội phạm mạng giữa các quốc gia. Thứ hai là tăng cường cơ chế tương trợ tư pháp và dẫn độ khi triển khai Công ước Hà Nội. Thứ ba là Công ước này sẽ hỗ trợ trực tiếp các cuộc điều tra chung.
    Khi được thông qua, Công ước Hà Nội sẽ có thêm cơ sở pháp lý, hành lang pháp lý cụ thể và chính thống để tiến hành các cuộc điều tra chung, thành lập các đội điều tra chung ( investigation teams ) giữa các nước trong khu vực và thế giới, khi phát sinh các yếu tố liên quan đến phòng chống tội phạm mạng, đặc biệt là trong các vụ lừa đảo xuyên quốc gia và rửa tiền kỹ thuật số. Điều này giúp đáng kể khoảng trống pháp lý mà tội phạm mạng thường lợi dụng. Hiện nay không gian mạng rất khó kiểm soát và không có biên giới."
    Những công cụ mới mà Công ước Hà Nội mang lại sẽ tác động như thế nào đến việc phòng chống tội phạm mạng ở Việt Nam, nhà tội phạm học Lương Thanh Hải dự báo:
    "Ở đây ta có thể tiếp cận từ hai góc độ. Góc độ thứ nhất là tác động của Công ước Hà Nội đối với Việt Nam. Góc độ thứ hai là tác động của Công ước Hà Nội đối với các đối tác của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới.
    Đầu tiên là trong nước, Công ước Hà Nội sẽ giúp cho Việt Nam, cụ thể là các cơ quan chức năng như bộ Công An hoặc bộ Thông Tin Truyền Thông, chuẩn hóa quy trình điều tra và xử lý tội phạm mạng, vừa bám theo Công ước Hà Nội, vừa nội hóa các luật nội địa Việt Nam đã ban hành, ví dụ như Luật an ninh mạng và gần đây nhất là luật về trí tuệ nhân tạo AI. Nó sẽ giúp chuẩn hóa quy trình điều tra và xử lý tội phạm liên quan đến không gian mạng, đồng thời nâng cao tính minh bạch và hiệu quả trong thu thập chứng cứ điện tử, thúc đẩy cách tiếp cận dựa trên dữ liệu và bằng chứng trong thực thi pháp luật của các cơ quan ở Việt Nam. 
    Cấp độ thứ hai là với các đối tác của Việt Nam trong khu vực ASEAN, cũng như các nước ngoài ASEAN, trong đó có Úc, Châu Âu, hay Mỹ. Ở cấp độ xuyên quốc gia, tác động sẽ rõ nét hơn. Công ước tạo nền tảng cho việc phối hợp hành động nhanh hơn giữa các quốc gia, đặc biệt là trong việc truy xét dòng tiền, xác định máy chủ và triệt phá các mạng lưới tội phạm hoạt động ở nhiều quốc gia cùng một lúc trên không gian mạng. Tuy nhiên ở đây tôi cũng cần lưu ý rằng hiệu quả thực sự sẽ phụ thuộc rất nhiều vào mức độ thực thi và niềm tin giữa các quốc gia. Bởi vì xây dựng niềm tin pháp lý, chia sẻ thông tin ở không gian mạng hiện nay có lúc vẫn bị nhiều nước, trong đó có Việt Nam, đánh giá là những vấn đề nhạy cảm. Việc chia sẻ giữa các đối tác trong khu vực và ngoài khu vực đều có những hạn chế nhất định. Thậm chí nhiều lúc chưa có sự tin tưởng một cách tuyệt đối."
    Trong việc phòng chống tội phạm mạng, Việt Nam từ nhiều năm qua vẫn có sự hỗ trợ của Cảnh sát Liên bang Úc ( AFP ). Tháng 5/2026, Cảnh sát Liên bang Úc đã phối hợp với bộ Công An Việt Nam và cảnh sát các nước Đông Nam Á khác tổ chức một hội thảo ở Đà Nẵng về nâng cao hợp tác giữa các bên trong lĩnh vực. Là một trong những người tham gia hội thảo, nhà tội phạm học Lương Thanh Hải cho biết:
    "Hiện nay Cảnh sát Liên bang Úc ( AFP ) có một hệ thống sĩ quan liên lạc cảnh sát quốc tế phủ rộng toàn cầu, trong đó có Việt Nam. Văn phòng Việt Nam đã mở hơn 20 năm nay. Có thể nói, theo đánh giá của cá nhân tôi, văn phòng đại diện sĩ quan liên lạc cảnh sát Úc ở Việt Nam đã đóng một vai trò rất lớn là một cầu nối quan trọng để kết nối lực lượng thực thi pháp luật của hai nước trong việc cập nhật, trao đổi thông tin, phối hợp điều tra, xử lý, dẫn độ cũng như giải quyết các vụ án mang tính chất xuyên quốc gia.
    Sự kiện ở Đà Nẵng có ba nội dung trọng tâm mà hiện nay Cảnh sát Liên bang Úc nâng cao hiệu quả hợp tác với đối tác Việt Nam. Thứ nhất là chia sẻ thông tin tình báo và dữ liệu tội phạm mạng, một trong những điểm rất quan trọng. Hội thảo vừa rồi cũng đánh giá cao sự chia sẻ giữa các đối tác trong khu vực ASEAN và lực lượng cảnh sát Úc.
    Thứ hai là hỗ trợ đào tạo và nâng cao năng lực cho lực lượng thực thi pháp luật ở Việt Nam, thông qua nhiều kênh khác nhau, ví dụ như kênh về chương trình đào tạo quản lý lực lượng thực thi pháp luật khu vực châu Á - Thái Bình Dương, được tổ chức thường niên mỗi năm khoảng hai đến ba khóa, tùy vào các chủ đề liên quan đến tội phạm xuyên quốc gia. Những năm gần đây ưu tiên đặc biệt là các vụ lừa đảo scam qua mạng ( scam ) rất là nhiều. Qua kênh đào tạo này thì hiện đã có hơn 1000 cán bộ thực thi pháp luật, trong đó có nhiều cán bộ của Việt Nam đã được đào tạo cùng với các nước ASEAN và khu vực Châu Á Thái Bình Dương. Chính điểm thứ hai này đã tạo ra được một lực lượng rất là thiện chiến trong phòng chống tội phạm mạng và các vấn đề liên quan đến an ninh mạng cho phía Việt Nam mà phía Úc đã hỗ trợ.
    Hợp tác thứ ba nữa mà tại diễn đàn này tôi cũng đã tập trung trao đổi, đó là chia sẻ những kinh nghiệm, phương thức, chiến thuật, các hoạt động phối hợp điều tra các vụ án xuyên biên giới, đặc biệt liên quan đến các vụ lừa đảo trực tuyến, rửa tiền số và bóc lột lao động trong các đường dây lừa đảo.
    Có thể nói trong bối cảnh Đông Nam Á đang nổi lên như một điểm nóng của các trung tâm lừa đảo xuyên quốc gia, hợp tác Việt Nam và Cảnh sát Liên bang Úc đóng một cái vai trò quan trọng không chỉ ở khía cạnh thực thi pháp luật, mà còn trong việc chia sẻ các kinh nghiệm thực chiến và xây dựng các chiến lược phòng ngừa mang tính nhất dài hạn."
  • Việt Nam : Các đại dự án giúp bảo tồn mục tiêu tăng trưởng 10%?

    01/06/2026
    “Những nhà lãnh đạo ảnh hưởng nhất trong lịch sử hiện đại Việt Nam đều được nhớ đến vì đã dẫn dắt những chuyển đổi mang tính cấu trúc” (1). Chỉ riêng năm 2025, Việt Nam triển khai hơn 550 dự án cơ sở hạ tầng trị giá khoảng 200 tỉ đô la. Hàng trăm dự án khác (điện hạt nhân, đường sắt cao tốc…) chuẩn bị được thực hiện. Mục tiêu cuối cùng là đạt tăng trưởng GDP ít nhất 10% trong nhiệm kỳ 2026-2030 và đưa Việt Nam thành nước có thu nhập trung bình cao.
    Theo báo Vietnamnet ngày 15/04/2026, “thay vì dàn trải, nhiệm kỳ mới đang hướng tới ít dự án hơn nhưng mỗi dự án phải đủ lớn để kéo tăng trưởng, tạo việc làm và mở rộng không gian phát triển”. Liệu các đại dự án có đủ để kéo tăng trưởng lên không ? Làm thế nào để tăng trưởng đó được bền vững ? Những biến động địa-chính trị thế giới, đặc biệt là khủng hoảng dầu lửa ở Trung Đông, tác động như thế nào đến mục tiêu tăng trưởng của Việt Nam ?
    RFI Tiếng Việt phỏng vấn ông Éric Mottet, chuyên gia địa-chính trị Đông Nam Á và khu vực Ấn Độ-Thái Bình Dương, giám đốc nghiên cứu tại Trung Tâm Nghiên cứu về Ấn Độ - Thái Bình Dương (CREIP), Đại học Laval, Québec, Canada.
    RFI : Trước tiên, xin ông giải thích những yếu tố nào góp phần vào sự tăng trưởng của một quốc gia ?
    Éric Mottet : Theo ước tính có khoảng bảy yếu tố then chốt tác động đến tăng trưởng kinh tế, có thể hoạt động đồng thời hoặc riêng lẻ. Trước hết là lao động, bao gồm quy mô dân số trong độ tuổi lao động, tỷ lệ việc làm, trình độ học vấn, kỹ năng và chất lượng đào tạo của người lao động. Một lực lượng lao động năng động, được đào tạo tốt sẽ tạo ra của cải hiệu quả hơn.
    Tiếp theo là vốn vật chất và vốn con người, tức là chất lượng máy móc được sử dụng, cơ sở hạ tầng, công nghệ, kỹ năng và bí quyết. Một quốc gia càng đầu tư nhiều vào nhà máy, đường xá và máy móc, thì càng giúp tăng năng suất và sản lượng quốc gia.
    Yếu tố thứ ba là tiến bộ công nghệ. Quốc gia đó có đầu tư vào đổi mới, công nghệ mới, nghiên cứu và phát triển không ? Bởi vì đây là một động lực rất cần thiết cho tăng trưởng, ít nhất là trong dài hạn. Ví dụ trí tuệ nhân tạo (AI), hiện tại đã rất quan trọng và sẽ còn quan trọng hơn nữa trong tương lai.
    Đọc thêmDự án nhà máy hạt nhân: Nhật Bản rút đi, Việt Nam sẽ khó đạt mục tiêu về điện nguyên tử
    Tiếp theo, cần phải nói đến thể chế và khuôn khổ chính trị, tức là sự ổn định chính trị, tôn trọng pháp luật và quyền sở hữu nói riêng, cũng như hiệu quả quản lý nhà nước. Nói cách khác, một môi trường ổn định khuyến khích đầu tư, nhất là đầu tư nước ngoài, và tạo dựng niềm tin là điều vô cùng cần thiết để tạo ra của cải và phát triển kinh tế.
    Sự mở cửa kinh tế nằm trong số những tiêu chí khác cũng rất quan trọng. Thương mại quốc tế giúp tiếp cận thị trường mới, công nghệ mới và tài nguyên thiên nhiên như dầu khí, khoáng sản, đất nông nghiệp, từ đó tăng trưởng kinh tế. Tất cả những yếu tố này có thể thúc đẩy tăng trưởng, nhưng không phải là thiết yếu. Ví dụ, ở châu Á, Nhật Bản và Hàn Quốc phát triển mạnh dù nguồn tài nguyên hạn chế.
    Cuối cùng là nhu cầu nội địa. Mức tiêu dùng hộ gia đình, đầu tư kinh doanh, chi tiêu công của chính phủ Việt Nam như thế nào ? Nhu cầu mạnh mẽ sẽ kích thích sản xuất và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của một quốc gia.
    RFI : Các dự án lớn đóng vai trò như thế nào trong tăng trưởng của một quốc gia ? Chúng có góp phần duy trì tốc độ tăng trưởng không ?
    Éric Mottet : Có, các dự án lớn - tức là các dự án cơ sở hạ tầng, công nghiệp, năng lượng và công nghệ - đóng vai trò quan trọng trong sự tăng trưởng kinh tế của một quốc gia. Việc này diễn ra ở nhiều cấp độ.
    Thứ nhất, các công trình hạ tầng kích thích nền kinh tế ngắn hạn bằng cách tạo ra việc làm, tăng nhu cầu đối với vật liệu, dịch vụ và thiết bị xây dựng. Chẳng hạn, việc xây dựng đập hoặc đường cao tốc sẽ tạo ra doanh thu và hoạt động kinh tế ngay lập tức. Sau đó, năng suất được cải thiện trong dài hạn, ví dụ các cơ sở hạ tầng giao thông giúp giảm chi phí vận chuyển và thời gian di chuyển, tạo thuận lợi cho nền kinh tế phát triển.
    Điều này đặc biệt quan trọng ở một quốc gia như Việt Nam, vì giúp di chuyển hàng hóa và con người thuận lợi hơn, nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp và tăng khả năng cạnh tranh cả trong nước cũng như với các công ty nước ngoài. Cơ sở hạ tầng tốt cũng thu hút đầu tư nước ngoài, ví dụ việc xây dựng cảng mới, khu công nghiệp hay đặc khu kinh tế sẽ thu hút các công ty nước ngoài còn do dự. Hơn nữa, cơ sở hạ tầng chất lượng cao còn thúc đẩy tiến bộ công nghệ ; các dự án năng lượng tái tạo và thành phố thông minh kích thích đổi mới sáng tạo trên toàn quốc.
    Đọc thêmViệt Nam muốn thành “cứ điểm” sản xuất thế giới nhưng thiếu cơ sở hạ tầng
    Một yếu tố quan trọng khác là giảm bất bình đẳng lãnh thổ. Việc xây dựng cơ sở hạ tầng chất lượng trên toàn quốc có thể giúp kết nối các vùng xa xôi, nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ giáo dục, y tế và việc làm. Một tuyến đường bộ hay đường sắt có thể thay đổi đáng kể một khu vực nông thôn hoặc vùng sâu, vùng xa.
    Tuy nhiên, các dự án cơ sở hạ tầng quy mô lớn cũng có những hạn chế. Nhìn chung chúng có chi phí rất cao, có thể dẫn đến rủi ro nợ nần đáng kể cho một nước và cũng có thể gây ra nhiều vấn đề nếu bị quản lý kém hoặc có tham nhũng. Các dự án này cũng có thể gây tác động xấu đến môi trường.
    Theo tôi, tất cả các dự án cơ sở hạ tầng lớn đều không bảo đảm tăng trưởng nếu bị quy hoạch kém. Do đó, chúng phải được quy hoạch tốt, có hệ thống quản lý hiệu quả và thiết kế bền vững ngay từ đầu.
    RFI : Trong nhiệm kỳ 5 năm (2026-2030), Việt Nam sẽ triển khai nhiều dự án cơ sở hạ tầng quy mô lớn (đường sắt cao tốc, nhà máy điện hạt nhân, sân bay Long Thành, mạng lưới đường sắt đô thị tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh). Những dự án này có ý nghĩa và vai trò như thế nào  trong việc đạt được mục tiêu tăng trưởng ít nhất 10% do đảng và Quốc Hội Việt Nam đề ra cho nhiệm kỳ này ?
    Éric Mottet : Đúng là các dự án hạ tầng lớn trong kế hoạch 5 năm đến năm 2030 là trụ cột chiến lược và trọng tâm phát triển. Chúng là đòn bẩy quan trọng giúp nền kinh tế hướng tới mục tiêu tăng trưởng bình quân 10%, tương tự những gì Trung Quốc đã trải qua trong những năm 1990-2000, thậm chí là cả thập niên 2010. Các dự án này là động lực mạnh mẽ cho tăng trưởng ngắn hạn, như đã nói ở trên, vì sẽ huy động đầu tư công và tư nhân, tạo việc làm, thúc đẩy các ngành liên quan như xi măng, thép và logistics. Nhờ đó, chúng trở thành chất xúc tác mạnh, thúc đẩy kinh tế tức thời, và theo tôi, sẽ làm góp phần tăng GDP ngay khi được triển khai.
    Hơn nữa, các dự án hạ tầng lớn còn cho phép cải thiện cấu trúc năng suất của một quốc gia như Việt Nam. Khi hệ thống hạ tầng được nâng cấp, chi phí logistics giảm, thời gian vận chuyển được rút ngắn và độ tin cậy tăng lên, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho lưu thông hàng hóa và kết nối thương mại giữa các vùng. Chẳng hạn, tuyến đường sắt cao tốc Hà Nội - TP. HCM sẽ rút ngắn khoảng cách địa lý, tăng cường liên kết kinh tế Bắc - Nam, đồng thời góp phần củng cố sự gắn kết quốc gia. Và như vậy sẽ nâng cao sức thu hút của Việt Nam.
    Đọc thêmChuyển toàn bộ chuyến bay quốc tế về Long Thành: Giới chuyên gia Việt Nam quan ngại
    Bên cạnh đó, các dự án như sân bay Long Thành hay việc phát triển các đô thị hiện đại sẽ nâng cao vị thế của Việt Nam trong mạng lưới giao thông và thương mại quốc tế, cả về du lịch lẫn kinh tế. Những công trình này còn cho phép một thành phố lớn như TP. HCM cạnh tranh với những trung tâm logistics hàng đầu khu vực như Bangkok, Singapore hay Hồng Kông. Nhờ vậy, mô hình tăng trưởng cũng có cơ hội chuyển dịch. Ngoài ra, các dự án năng lượng như nhà máy điện hạt nhân, nếu được triển khai hiệu quả, sẽ bảo đảm nguồn cung điện ổn định và sẽ giúp nền kinh tế phát triển theo hướng cao cấp hơn.
    Tôi cho rằng tất cả những lý do này sẽ giúp củng cố tăng trưởng kinh tế. Và cần nhắc lại, nếu được triển khai một cách thông minh, bền vững và quản lý hiệu quả, những công trình cơ sở hạ tầng này sẽ giúp Việt Nam đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế hàng năm và đưa Việt Nam trở thành một nền kinh tế quan trọng tại châu Á.
    RFI : Liệu sự tăng trưởng này (một phần nhờ các dự án lớn) có bền vững không ?
    Éric Mottet : Các dự án cơ sở hạ tầng có thể bền vững, nhưng không phải tự nhiên mà có mà phụ thuộc vào cách chúng được thiết kế, tài trợ và tích hợp vào nền kinh tế. Để đạt hiệu quả, cần xem xét nhiều yếu tố quan trọng. Trước hết, hạ tầng phải thực sự thiết thực. Thực tế cho thấy ở nhiều nước như Trung Quốc, kể cả Việt Nam, vẫn tồn tại các công trình được đầu tư lớn nhưng hiệu quả sử dụng thấp. Vì vậy, tính hữu ích và đáp ứng nhu cầu kinh tế thực sự là tiêu chí hàng đầu. Khi được quản lý tốt, cơ sở hạ tầng sẽ hỗ trợ tăng trưởng dài hạn.
    Thứ hai, các dự án hạ tầng cần đóng vai trò thúc đẩy chuyển đổi sang nền kinh tế có năng suất cao hơn, thay vì chỉ tạo ra tác động ngắn hạn. Điều này đòi hỏi hạ tầng phải được quy hoạch với tầm nhìn dài hạn, từ 10 đến 30 năm, thậm chí là 40 năm. Một công trình chỉ mang lại hiệu ứng tạm thời trong giai đoạn xây dựng sẽ không có nhiều ý nghĩa. Vì vậy, tính bền vững cần được đặt trong tầm nhìn nhiều thập niên.
    Đọc thêmViệt Nam : Giấc mơ đường sắt cao tốc và bài toán 70 tỉ USD
    Bên cạnh đó, các dự án hạ tầng cũng cần được quản lý tài chính hiệu quả. Nợ công phải được kiểm soát ở mức an toàn và các dự án cần tạo ra hiệu quả kinh tế rõ rệt trong vòng 10-20 năm. Do đó, sự tăng trưởng được tài trợ này không nên phụ thuộc quá nhiều vào vay nợ mà cần hướng đến khả năng tự tạo nguồn thu và sinh lời trong thời gian hợp lý.
    Ngoài ra, để các công trình hạ tầng bền vững, chúng cần được triển khai theo hướng thân thiện với môi trường, tránh gây tác động tiêu cực lâu dài. Đồng thời, cần có cơ chế quản lý minh bạch, quy hoạch hiệu quả, có tính đến những tác động xã hội và môi trường mà mọi dự án hạ tầng lớn có thể gây ra khi được triển khai tại một khu vực nhất định.
    RFI : Chúng ta thấy một yếu tố mới xuất hiện : cuộc khủng hoảng năng lượng và dầu mỏ do chiến tranh ở Trung Đông. Yếu tố này sẽ tác động như thế nào đến các dự án lớn của Việt Nam và, quan trọng hơn, đến sự tăng trưởng của đất nước ?
    Éric Mottet : Căng thẳng và khủng hoảng tại Trung Đông tạo ra một “cú sốc bên ngoài” đối với Việt Nam và có thể ảnh hưởng trực tiếp đến các dự án hạ tầng lớn và triển vọng tăng trưởng. Tôi cho rằng tác động tiêu cực trong ngắn hạn được thể hiện rõ qua việc giá nguyên vật liệu tăng mạnh, đặc biệt là dầu khí. Điều này làm leo thang chi phí xây dựng, bởi vì thép, xi măng và nhựa đường đều tăng giá đáng kể ; riêng nhựa đường tại nhiều nước đã tăng từ 30-50%.
    Chi phí năng lượng tăng cao làm đội chi phí tổng thể của các dự án, đồng thời gia tăng nguy cơ chậm tiến độ hoặc vượt ngân sách. Những yếu tố này có thể ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính và khả năng sinh lời của các công trình hạ tầng quy mô lớn. Đặc biệt, các dự án có vốn đầu tư lớn như đường sắt cao tốc, sân bay hay nhà máy điện hạt nhân có thể trở nên đắt đỏ hơn nhiều so với dự kiến ban đầu do khủng hoảng Trung Đông, nhất là nếu còn kéo dài trong nhiều tháng.
    Đọc thêmChiến tranh Trung Đông tác động đến hấp lực xuất khẩu và tăng trưởng của Việt Nam
    Khủng hoảng tại Trung Đông là trở ngại đáng kể đối với tăng trưởng kinh tế Việt Nam. Giá năng lượng tăng gây ra lạm phát nhập khẩu, làm suy giảm sức mua của hộ gia đình và thu hẹp biên lợi nhuận của doanh nghiệp. Khi chi phí năng lượng tăng, doanh nghiệp phải gánh chi phí cao hơn, từ đó hạn chế khả năng đầu tư và mở rộng sản xuất. Vì vậy, mục tiêu đạt mức tăng trưởng 10% mỗi năm của Việt Nam có nguy cơ trở nên khó khăn hơn trong giai đoạn 2026-2027, thậm chí là 2028 nếu khủng hoảng Trung Đông còn kéo dài.
    Tuy nhiên, không phải mọi tác động đều tiêu cực. Trong trường hợp của Việt Nam, khủng hoảng còn có thể trở thành động lực thúc đẩy quá trình chuyển đổi năng lượng. Chúng ta có thể thấy rõ rằng Việt Nam hiện rất nhạy cảm với những cú sốc năng lượng từ bên ngoài. Điều này có thể thúc đẩy chính phủ đẩy nhanh chiến lược đa dạng hóa nguồn cung, bao gồm phát triển điện hạt nhân và mở rộng năng lượng tái tạo. Về dài hạn, những bước đi này sẽ giúp Việt Nam giảm phụ thuộc vào dầu khí, đặc biệt là nhập khẩu dầu mỏ.
    Khủng hoảng Trung Đông không hoàn toàn tiêu cực, tôi cho rằng Việt Nam hiểu rõ điều này. Tuy vậy, biến động năng lượng vẫn có thể cản trở mục tiêu tăng trưởng bình quân 10% được đề ra trong giai đoạn 2026-2030.
    RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn giám đốc nghiên cứu Éric Mottet, Trung Tâm Nghiên cứu về Ấn Độ - Thái Bình Dương (CREIP), Đại học Laval, Québec, Canada.
    (1) Dan Martin, Văn phòng tư vấn Dezan Shira & Associates, được AFP trích dẫn ngày 08/04/2026
  • Việt Nam mua tên lửa BrahMos của Ấn Độ: Hai nước "đang tiến gần" đến thỏa thuận

    25/05/2026
    Trong khuôn khổ chính sách "Hướng Đông" của Ấn Độ và nhằm đối phó với ảnh hưởng ngày càng tăng của Trung Quốc ở Đông Nam Á, thủ tướng Narendra Modi đã thảo luận với tổng bí thư, chủ tịch nước Tô Lâm trong chuyến thăm Ấn Độ đầu tháng 5 vừa qua về việc tăng cường hợp tác quốc phòng Ấn Độ - Việt Nam, bao gồm cả việc bán tên lửa hành trình siêu âm BrahMos cho Hà Nội. 
    Thương vụ bán tên lửa BrahMos cho Việt Nam cũng đã là một trong những chủ đề chính trong chuyến thăm Việt Nam của bộ trưởng Quốc Phòng Rajnath Singh trong hai ngày 18 và 19/05. Theo báo chí Ấn Độ, hai nước "đang tiến gần" đến thỏa thuận trị giá 700 triệu đôla để cung cấp tên lửa BrahMos cho Việt Nam. Các cuộc đàm phán được mô tả là đang ở giai đoạn "nâng cao" và thỏa thuận có thể sẽ được ký kết trong những tháng tới.
    Từ nhiều năm qua, Việt Nam đã đàm phán mua tên lửa siêu thanh BrahMos của Ấn Độ, loại tên lửa mà ít nhất 15 quốc gia khác, nhất là các nước Đông Nam Á, cũng đang quan tâm. Tuy nhiên, vì nhiều lý do, trong đó có vấn đề chuyển giao công nghệ, đàm phán giữa Hà Nội và New Delhi đã kéo dài.
    Tên lửa BrahMos ngày càng hấp dẫn với các nước Đông Nam Á là nhờ có hiệu năng vượt trội và khả năng chiến đấu đã được chứng minh. Lần ra mắt trên chiến trường của tên lửa siêu thanh này là trong “Chiến dịch Sindoor” vào tháng 5/2025, chiến dịch quân sự của Ấn Độ chống Pakistan sau một cuộc tấn công của phiến quân ở vùng Kashmir do Ấn Độ quản lý, khiến ít nhất 26 thường dân thiệt mạng. Các cuộc tấn công cho thấy khả năng của BrahMos xuyên thủng hệ thống phòng không chủ động . 
    Trên trang mạng của nhật báo Hồng Kông South China Morning Post ngày 10/05/2026, Gaurav Kumar, một nhà nghiên cứu tại một viện nghiên cứu quốc phòng của Ấn Độ, cho biết tên lửa BrahMos bay với tốc độ hơn Mach 3. Theo ông Kumar, vận tốc và độ cao tương đối thấp của BrahMos khiến “hệ thống phòng không của đối phương có rất ít thời gian phản ứng. Các hệ thống có thể theo dõi tên lửa này, nhưng việc đánh chặn vẫn cực kỳ khó khăn, đặc biệt là trong các cuộc tấn công hàng loạt.” 
    Trả lời phỏng vấn RFI Việt ngữ ngày 14/05/2026, nghiên cứu sinh Nguyễn Thế Phương, chuyên về an ninh hàng hải và các vấn đề hải quân, Đại học New South Wales, Canberra, Úc, cho biết thêm:
    “BrahMos là loại tên lửa đa dụng, tức là không chỉ gắn lên xe phóng ở trên bờ, ta có thể gắn tên lửa lên máy bay chiến đấu. Triển khai máy bay đó ra ngoài bờ biển cũng tạo ra một sức ép rất lớn với đối thủ tiềm tàng, hoặc là đặt trên bờ và di chuyển tên lửa đó đến những vị trí mà mình muốn, tạo ra cái mà Việt Nam gọi là "khả năng răn đe" đối với một đối thủ tiềm tàng nào đó trong trường hợp xung đột xảy ra. 
    Thứ hai là tính hiện đại. Tên lửa này có tốc độ rất cao, Mach 3, tức gấp ba lần vận tốc âm thanh. Công nghệ siêu thanh này Việt Nam chưa có. 
    Thứ ba, quan trọng nhất, là giá thành. Các loại vũ khí tương tự của Nhật hay của Châu Âu có giá tương đối cao, trong khi BrahMos có giá tương đối thấp. Đối với các nước Đông Nam Á có nguồn lực quốc phòng không đủ mạnh, không đủ nhiều, lựa chọn này là một trong những lựa chọn “affordable”, tức là có tính kinh tế nhất, cho việc phát triển và hiện đại hóa năng lực phòng thủ không chỉ của Việt Nam, mà còn của các nước như Philippines, Indonesia, Malaysia, những nước đang có tranh chấp trên biển. 
    Thứ tư, đây là một sản phẩm quốc phòng của Ấn Độ dựa trên công nghệ của Nga. Nếu nói về một trong những loại công nghệ phòng thủ bờ biển vừa hiệu quả mà vừa rẻ tiền, đầu tiên người ta nói tới Nga. Nhưng chiến tranh Ukraina từ 2022 tới nay khiến cho việc tiếp cận công nghệ vũ khí, khí tài của Nga trên thị trường thế giới rất khó.
    Sản phẩm đó của Ấn Độ ngẫu nhiên trở thành lựa chọn hấp dẫn, vì đó là công nghệ Nga nhưng được làm ở Ấn Độ và được đăng ký bản quyền ở Ấn Độ, cho nên sẽ không bị những rào cản về cấm vận, hay bị các nước phương Tây để ý, giúp cho các quốc gia Đông Nam Á tiếp cận một loại công nghệ phòng thủ tốt nhưng rẻ và không vướng vào những khúc mắc liên quan tới cuộc chiến Nga - Ukraina.
    Xét về mặt công nghệ tên lửa hiện nay hầu như toàn bộ các quốc gia Đông Nam Á, chứ không riêng Việt Nam, đều chưa có một loại vũ khí nào có thể đối phó hiệu quả trong một cuộc chiến với Trung Quốc, đặc biệt trong bối cảnh xung đột trên các đảo đang tranh chấp ở Biển Đông, một kịch bản giả định một cuộc xâm lược từ hướng biển. Kịch bản này là một trong những kịch bản mà Việt Nam liên tục cập nhật.
    Về các loại vũ khí tàu chiến, ngoài Mỹ, một số nước Châu Âu và Nhật Bản, BrahMos là một lựa chọn tương đối là phù hợp, tuy không phải là phù hợp nhất, đối với các nước Đông Nam Á trong việc cải thiện năng lực phòng thủ bờ biển.”
    Nếu thỏa thuận được ký kết, Việt Nam sẽ trở thành quốc gia thứ ba sở hữu hệ thống tên lửa hành trình siêu thanh BrahMos, sau hợp đồng trị giá 375 triệu đô la của Philippines vào năm 2022 và thỏa thuận của Indonesia vào tháng 3/2026 để hoàn tất hợp đồng trị giá ít nhất 340 triệu đô la. Nhưng theo Nguyễn Thế Phương, có một số lý do khiến đàm phán giữa Việt Nam và Ấn Độ về mua tên lửa BrahMos kéo dài:
    “Thật ra hợp đồng BrahMos là hợp đồng mà Việt Nam và Ấn Độ đã đàm phán rất lâu, từ cách đây cũng khoảng 10 năm. Cho tới nay thực tế thì tỷ lệ phần trăm mà Việt Nam có thể mua BrahMos từ Ấn Độ vẫn là 50/50, chứ chưa phải là điều gì chắc chắn cả. Hai bên vẫn đang đàm phán với nhau.
    Có nhiều lý do khiến cho tên lửa này hấp dẫn, nhưng chưa đủ để cho đàm phán đó tiến nhanh.Thứ nhất là Việt Nam hiện đang trong quá trình xây dựng một nền công nghiệp quốc phòng lưỡng dụng, tự chủ và cho tới nay đã đạt được một số thành tựu nhất định, đặc biệt là đã tự chế tạo được loại tên lửa tạm gọi là “phòng thủ bờ biển”. Cách đây hai năm, Việt Nam cũng đã cho ra mắt một số loại tên lửa nội địa. Đây cũng là một phần khiến cho sự mặn mà của Việt Nam đối với BrahMos chưa phải là cấp thiết lắm.
    Thứ hai là tỷ lệ nội địa hóa của Ấn Độ đối với BrahMos chưa phải là cao. BrahMos là một dự án liên doanh hợp tác chuyển giao công nghệ giữa Ấn Độ và Nga. Ở thời điểm hiện tại, theo một số nguồn tin, tỷ lệ mà Ấn Độ nội địa hóa trong tên lửa BrahMos là vào khoảng 60 tới 70% thôi, còn 30 tới 40% còn lại thì vẫn dựa vào công nghệ của Nga.
    Việt Nam vẫn lo ngại là trong bối cảnh chiến tranh Nga - Ukraina hiện nay, liệu thành phẩm hoàn chỉnh BrahMos có đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn kỹ, chiến thuật hay không? Hiện giờ Nga đang bị cấm vận và chính sách quốc phòng của Nga đang hướng nội, tập trung cho việc xây dựng nguồn lực cho cuộc chiến với Ukraina nhiều hơn là hợp tác với nước ngoài. Việt Nam lo ngại nếu nhập khẩu thì liệu hệ thống tên lửa đó có vận hành đúng như những gì mà Việt Nam mong muốn không?
    Ngoài ra còn có những điểm liên quan đến chuyển giao công nghệ nữa. Đây là một trong những điểm mà hai bên chắc đang phải tập trung đàm phán. Đối với Việt Nam hiện nay, một trong những trụ cột của chính sách phát triển quốc phòng và đặc biệt là chính sách phát triển các loại vũ khí là mong muốn được đối tác nước ngoài chuyển giao công nghệ.
    Việc nhập khẩu tên lửa BrahMos có một hàm ý quan trọng là liệu Ấn Độ có cho phép Việt Nam tiếp cận công nghệ động cơ đó hay không? Đây là một điểm khá là khúc mắc, bởi vì thường thì đứng về góc độ của người bán vũ khí, họ sẽ lưỡng lự và cũng rất khó khăn trong quyết định có nên chuyển giao công nghệ cho đối tác nước ngoài không. 
    Việt Nam hiện đang tổ chức lại lực lượng tên lửa và tăng cường hệ thống phòng không, cho nên cũng quan tâm đến các loại tên lửa khác của Ấn Độ, theo lời Nguyễn Thế Phương: 
    Ngoài BrahMos, có thông tin là Việt Nam cũng quan tâm đến các loại tên lửa phòng không của Ấn Độ và một số loại công nghệ tên lửa đạn đạo trong bối cảnh Việt Nam đang tái cấu trúc lại tên lửa, pháo binh thành Bộ tư lệnh Pháo binh - Tên lửa.
    Trong việc hiện đại hóa năng lực pháo binh cộng với các loại tên lửa đất đối đất tầm ngắn và tầm trung trong tương lai, Ấn Độ là nước có năng lực phát triển tên lửa đối đất thuộc hàng top ở châu Á. Thứ hai là về phòng không, Việt Nam cách đây khoảng một năm đã đưa ra một khái niệm “Vòm phòng không bền vững”, tương tự như "Vòm Sắt" của Israel .
    Nói đến vòm phòng không là nói đến các loại vũ khí liên quan tới phòng không, nhiều tầng nhiều lớp. Đây là mảng hợp tác cũng tương đối tiềm năng giữa Ấn Độ và Việt Nam. Ấn Độ đã phát triển một số loại tên lửa phòng không, mà theo quảng cáo, về mặt lý thuyết tương đối là có năng lực. Nhưng các loại tên lửa phòng không của Ấn Độ là có công nghệ của Israel.  Trong bối cảnh hiện nay, quan hệ hợp tác Việt Nam và Israel đang chậm lại, vì Israel vướng vào cuộc chiến Gaza, cuộc chiến với Iran, nguồn lực của Israel phải tập trung vào các cuộc chiến đó, khiến cho việc Việt Nam tiếp cận công nghệ của Israel cũng có vấn đề."
    Theo Nguyễn Thế Phương, ngoài việc mua sắm vũ khí, Việt Nam còn cần đến kinh nghiệm của Ấn Độ trong việc vận hành các loại vũ khí có công nghệ của Nga. Sau chuyến thăm của chủ tịch nước Tô Lâm, Ấn Độ cho biết sẽ tiếp tục giúp Việt Nam huấn luyện thủy thủ tàu ngầm và tiếp tục hỗ trợ Việt Nam đào tạo phi công cũng như kỹ sư vận hành các loại máy bay chiến đấu đang trong biên chế của Việt Nam là Su 27 và Su 30.
About Tạp chí Việt Nam
Những vấn đề, sự kiện đang được dư luận quan tâm ở Việt Nam
Podcast website