PodcastsTạp chí Việt Nam

Tạp chí Việt Nam

Tạp chí Việt Nam
Latest episode

80 episodes

  • Ba cuộc điều tra của Mỹ và tác động đến thương mại với Việt Nam

    29/06/2026
    Việt Nam là đối tượng ba cuộc điều tra chỉ trong vài tháng theo Mục 301 của Đạo luật Thương mại năm 1974 của Mỹ: sản xuất dư thừa, lao động cưỡng bức, bảo hộ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ. Ngoài ra, theo VOV, Mỹ mở 82 cuộc điều tra phòng vệ thương mại với Việt Nam, đứng đầu các nước điều tra (321 vụ tính đến hết tháng 05/2026). Những biện pháp này có thể dẫn đến “hành động khắc phục” trong bối cảnh thặng dư thương mại của Việt Nam với Mỹ không ngừng tăng.
    Tại sao các cuộc điều tra lại được tiến hành vào thời điểm này ? Những biện pháp này của Mỹ sẽ tác động như thế nào đến Việt Nam, cũng như đến mối quan hệ song phương ? RFI Tiếng Việt phỏng vấn giảng viên-nhà nghiên cứu Laurent Gédéon, Đại học Công giáo Lyon (Université catholique de Lyon) và Viện Đông Á (IAO), Trường Sư phạm Lyon tại Pháp (Ecole normale supérieure de Lyon).
    RFI : Việt Nam là đối tượng của ba cuộc điều tra của Mỹ (sản xuất dư thừa, lao động cưỡng bức, bảo hộ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ). Tại sao ba cuộc điều tra này lại được tiến hành vào thời điểm này ?
    Laurent Gédéon : Trước tình hình hiện nay, chúng ta nhìn lại một chút diễn biến. Ngày 16/05/2025, sau cuộc họp bộ trưởng APEC lần thứ 31 về thương mại tại Jeju (Hàn Quốc), bộ trưởng Công Thương Việt Nam khi đó là ông Nguyễn Hồng Diên, trưởng đoàn đàm phán Việt Nam, đã đàm phán với đại diện Thương Mại Mỹ Jamieson Greer. Hai bên thông báo đạt được thỏa thuận về các nguyên tắc, cách tiếp cận, định hướng nội dung và kế hoạch đàm phán nhằm hướng tới một hiệp định thương mại song phương.
    Tiếp đó, hai vòng đàm phán kỹ thuật được tổ chức tại Washington vào tháng 05 và tháng 06/2025. Đến tháng 10/2025, Việt Nam và Mỹ công bố bản tuyên bố chung thiết lập khuôn khổ cho một hiệp định thương mại song phương công bằng và cân bằng.
    Tuy nhiên, sau nhiều tháng đàm phán, hai bên vẫn chưa đạt được thỏa thuận cuối cùng. Các cuộc đàm phán vẫn bị đình trệ do những bất đồng quan trọng, đặc biệt là về tiếp cận thị trường và thặng dư thương mại rất lớn của Việt Nam với Mỹ, không ngừng gia tăng khi nhiều doanh nghiệp quốc tế chuyển hoạt động sản xuất sang Việt Nam trong quá trình tái cơ cấu chuỗi cung ứng toàn cầu. Tình hình này càng trở nên đáng lo ngại hơn khi Mỹ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, với kim ngạch xuất khẩu đạt 193 tỷ đô la năm 2025. Tuy nhiên, cán cân thương mại lại mất cân đối khi thâm hụt thương mại của Mỹ với Việt Nam tăng lên 178,2 tỷ đô la.
    Đây có thể là một trong những yếu tố giải thích cho việc Mỹ mở hai cuộc điều tra đầu tiên nhắm vào Việt Nam vào tháng 03/2026, theo Mục 301 của Đạo luật Thương mại năm 1974, tập trung vào các hành vi thương mại không công bằng, (tình trạng dư thừa năng lực sản xuất và lao động cưỡng bức).
    Đọc thêmTrước nguy cơ Mỹ áp thuế, Việt Nam trấn áp mạnh nạn vi phạm bản quyền trực tuyến
    Đến ngày 29/05, ông Jamieson Greer thông báo cuộc điều tra thứ ba, cũng dựa trên Mục 301 của Đạo luật Thương mại năm 1974, về chính sách bảo hộ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ của Việt Nam nhằm đánh giá tác động đối với thương mại Mỹ. Cuộc điều tra này có thể tạo cơ sở để Washington áp dụng thêm các biện pháp thuế quan đối với hàng hóa Việt Nam. Quyết định của ông Greer được đưa ra sau báo cáo thường niên công bố ngày 30/04, trong đó, Việt Nam bị Mỹ chỉ định là « mối quan ngại lớn » và đặc biệt là bị xếp vào nhóm « Ngoại quốc ưu tiên » về quyền sở hữu trí tuệ. Đây là mức đánh giá nghiêm trọng nhất dành cho các quốc gia có những hành động và chính sách gây ảnh hưởng tiêu cực lớn đến quyền sở hữu trí tuệ của Mỹ.
    Đây là lần đầu tiên sau 13 năm, Việt Nam bị đưa vào nhóm này. Việc bị xếp hạng cũng phản ánh quan điểm của Washington rằng Việt Nam chưa đạt được tiến triển đáng kể trong các cuộc đàm phán nhằm cải thiện việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ.
    Trong khi Trung Quốc, Ấn Độ, Chilê, Indonesia, Nga và Venezuela chỉ nằm trong « Danh sách giám sát ưu tiên », Việt Nam là quốc gia duy nhất thuộc nhóm « Ngoại quốc ưu tiên ».
    Bối cảnh kinh tế bất lợi và sự chậm trễ trong đàm phán buộc Washington gia tăng áp lực đối với Hà Nội. Cũng có thể do sắp đến cuộc bầu cử giữa kỳ tại Mỹ (tháng 11/2026), tổng thống Donald Trump cần những chiến thắng, cả về kinh tế lẫn quân sự, để thể hiện với cử tri của ông.
    RFI : Chính quyền Mỹ có thể sẽ đưa ra những biện pháp nào trong trường hợp Việt Nam bị cáo buộc ?
    Laurent Gédéon : Những phân tích trên cho thấy có nhiều khả năngchính quyền Trump sẽ gia tăng sức ép thương mại đối với Việt Nam do nền kinh tế Việt Nam, như đã đề cập, phụ thuộc rất lớn vào xuất khẩu, đặc biệt là xuất khẩu sang thị trường Mỹ. Trong bối cảnh đó, tổng thống Mỹ có thể có đủ cơ sở pháp lý để đơn phương áp đặt thuế quan đối với hàng hóa nhập khẩu từ Việt Nam, với lý do Việt Nam có những hành vi thương mại không công bằng.
    Tuy nhiên, đại diện Thương Mại Mỹ cho biết sẽ tham vấn tổng thống Donald Trump để đánh giá có cần áp dụng các « biện pháp khắc phục » hay không. Ông cũng nhấn mạnh quá trình này có thể kéo dài nhiều tháng. Trong một tuyên bố, ông cũng cho biết sẽ theo dõi liệu Việt Nam có chủ động giải quyết những quan ngại tồn tại lâu nay bằng các biện pháp « bền vững và đủ sức răn đe nhằm ngăn ngừa các vi phạm tương tự trong tương lai » hay không. Điều này cho thấy Hoa Kỳ hiện vẫn ưu tiên đàm phán và muốn duy trì quan hệ với Việt Nam, quốc gia được Washington xem là đối tác quan trọng trong bối cảnh địa-chính trị châu Á đang rất nhạy cảm và phức tạp.
    Đọc thêmViệt Nam có thể đáp ứng các yêu cầu của Mỹ trước khi mối quan hệ thương mại rạn nứt ?
    Cũng có khả năng Washington sẽ gây sức ép để Hà Nội ký Hiệp định Thương mại Đối ứng (Agreement on Reciprocal Trade - ART), tương tự như thỏa thuận giữa Mỹ và Malaysia. Một hiệp định như vậy có thể bao gồm các điều chỉnh về thuế quan, tăng cường hợp tác theo ngành và trong lĩnh vực quy định pháp lý, cũng như mở rộng khả năng tiếp cận thị trường của cả hai bên. Cần lưu ý rằng một trong những hệ quả của các hiệp định ART là tăng cường sự gắn kết giữa các đối tác với Hoa Kỳ, kể cả trong bối cảnh cạnh tranh kinh tế Mỹ - Trung ngày càng gay gắt.
    Nhìn chung, Mỹ hoàn toàn có khả năng áp dụng các biện pháp bất lợi đối với Việt Nam, đặc biệt là thuế quan, nhưng trước mắt nhiều khả năng là Washington chưa hành động ngay, ưu tiên đàm phán và sẽ chờ.
    RFI : Những cuộc điều tra này, cũng như bất kỳ biện pháp trừng phạt nào nếu có từ Mỹ, có thể sẽ tác động như thế nào đến Việt Nam ?
    Laurent Gédéon : Nếu các biện pháp trừng phạt được áp dụng, chúng sẽ gây tác động đáng kể đối với Việt Nam.
    Trước tiên, cần nhắc lại kể từ khi Hiệp định Thương mại song phương được ký năm 2000, kim ngạch nhập khẩu của Mỹ từ Việt Nam đã tăng mạnh mẽ, từ 1 tỷ đô la năm 2001 lên 193 tỷ đô la năm 2025. Những con số này rất ấn tượng nhưng cần đặt chúng trong bối cảnh tổng thể. Dù Việt Nam đạt thặng dư thương mại song phương rất lớn với Mỹ, lên tới 178 tỷ đô la năm 2025 nhưng hàng hóa Việt Nam chỉ chiếm khoảng 5,6% tổng kim ngạch nhập khẩu của Mỹ (3.400 tỷ đô la) và chiếm khoảng 0,6% GDP của Mỹ. Những yếu tố này cho thấy Washington đang nắm lợi thế trong đàm phán với Hà Nội. Ngược lại, do nền kinh tế Việt Nam phụ thuộc đáng kể vào xuất khẩu sang thị trường Mỹ (khoảng 27% tổng kim ngạch xuất khẩu), các biện pháp trả đũa thương mại từ Washington có thể gây tác động rất lớn đến nền kinh tế Việt Nam.
    Đọc thêmThương mại : Tách Mỹ hay rời Trung Quốc ? Việt Nam tìm cách cân bằng đôi bên
    Đó cũng là lý do Hà Nội đã phản ứng rất nhanh trước các quan ngại của Mỹ. Thủ tướng Lê Minh Hưng khẳng định Việt Nam quyết tâm chống các hành vi vi phạm quyền sở hữu trí tuệ. Ngày 07/05, chỉ một tuần sau khi Báo cáo của đại diện Thương Mại Mỹ được công bố, chính phủ Việt Nam đã phát động chiến dịch kéo dài một tháng nhằm xử lý các trang web vi phạm bản quyền, hàng giả và hành vi xâm phạm nhãn hiệu, với mục tiêu tăng 20% số vụ truy tố.
    Đây không phải là lần đầu tiên Việt Nam triển khai các biện pháp như vậy. Năm 2025, Hà Nội cũng tiến hành một chiến dịch tương tự ngay sau khi chính quyền Trump công bố mức thuế 46% đối với hàng hóa Việt Nam. Mức thuế này sau đó được giảm xuống còn 20% vào tháng 07/2025 và tiếp tục hạ xuống 10% vào tháng 02/2026 theo phán quyết của Tòa Án Tối Cao Hoa Kỳ.
    RFI : Như ông đã đề cập Việt Nam đã phản ứng thông qua tuyên bố và hành động. Trên thực tế, Việt Nam cần phản ứng và giải quyết tình hình này như thế nào ? Liệu các biện pháp mà Hoa Kỳ thực hiện có ảnh hưởng đến quan hệ giữa hai nước, vốn đã căng thẳng về vấn đề thâm hụt thương mại ?
    Laurent Gédéon : Quan hệ Mỹ - Việt trải qua nhiều biến động trong những tháng gần đây và nguy cơ Washington áp đặt các biện pháp trừng tài chính có thể khiến tình hình thêm phức tạp. Điều này đánh dấu sự thay đổi đáng kể so với năm 2023, dưới thời chính quyền Biden, quan hệ song phương đạt đến đỉnh cao với Đối tác chiến lược toàn diện.
    Dưới thời tổng thống Trump, Washington đảo ngược xu hướng bằng một loạt biện pháp thuế quan. Việt Nam phản đối cách tiếp cận này, đặc biệt là các mức thuế nhắm vào ngành nội thất - lĩnh vực có mức tăng trưởng nhanh và được Hà Nội ưu tiên phát triển.
    Theo phía Việt Nam, chính sách của Washington còn trở nên khó dự đoán do lập trường thiếu nhất quán của ông Trump. Trong khi đó, Việt Nam ở thế bất lợi vì phụ thuộc nhiều vào xuất khẩu sang Mỹ nhưng không có khả đưa ra các cam kết đầu tư lớn vào Mỹ như các nền kinh tế phát triển hơn (Nhật Bản, Hàn Quốc) để đổi lấy những nhượng bộ thương mại.
    Bên cạnh các bất đồng kinh tế, một số yếu tố chiến lược cũng làm gia tăng căng thẳng trong quan hệ song phương.
    Mùa hè 2025, xuất hiện thông tin Việt Nam ký các hợp đồng lớn với Nga để mua các hệ thống phòng không, phòng thủ trên biển, bất chấp các lệnh trừng phạt quốc tế. Theo điều tra được báo New York Times công bố ngày 27/10/2025, Việt Nam mua của Nga một hệ thống tác chiến điện tử dành cho tiêm kích Su-35, có khả năng gây nhiễu và đánh lạc hướng tên lửa. Tổng trị giá các hợp đồng là khoảng 8 tỷ đô la, bao gồm 40 chiến đấu cơ mới.
    Yếu tố thứ hai là báo cáo của tổ chức phi chính phủ Project88, theo đó các nhà hoạch định quân sự Việt Nam đang bí mật chuẩn bị cho khả năng xảy ra một cuộc xâm lược từ Mỹ và các đồng minh, bất chấp việc hai nước đã nâng cấp quan hệ lên mức Đối tác chiến lược toàn diện (ngang hàng với thỏa thuận giữa Việt Nam và Nga, Trung Quốc) và xác định Mỹ và Việt Nam là « những đối tác đáng tin cậy gắn kết bởi tình hữu nghị dựa trên sự tôn trọng lẫn nhau ».
    Báo cáo của Project88 dựa trên một tài liệu nội bộ của Hải Quân Việt Nam trực thuộc bộ Quốc Phòng ban hành ngày 01/08/2024 với tiêu đề Kế hoạch xâm lược thứ hai của Mỹ. Tài liệu nhận định « nguy cơ chiến tranh với Việt Nam hiện còn thấp » nhưng cảnh báo :
    cần cảnh giác trước khả năng Mỹ và các đồng minh tạo ra một "cái cớ" để tiến hành chiến tranh xâm lược Việt Nam.
    Đọc thêmViệt Nam xích lại gần Mỹ nhưng vẫn nuôi ngờ vực chiến lược
    Văn bản cũng bày tỏ lo ngại về khả năng các thế lực bên ngoài kích động nổi dậy nhằm chống lại sự lãnh đạo của Nhà nước. Báo cáo cho rằng trong quá trình tăng cường năng lực răn đe đối với Trung Quốc, Mỹ có thể sử dụng các hình thức chiến tranh phi truyền thống, can thiệp quân sự hoặc thậm chí tiến hành các cuộc xâm lược quy mô lớn nhằm vào những nước bị coi là « rời khỏi quỹ đạo » của Washington. Những diễn biến gần đây tại Venezuela, Iran cũng như những đe dọa đối với Cuba càng làm gia tăng sự cảnh giác của giới lãnh đạo Việt Nam.
    Trong bối cảnh đó, nhiều khả năng Việt Nam sẽ tiếp tục theo đuổi chính sách cân bằng, duy trì khoảng cách tương đối với Hoa Kỳ. Một dấu hiệu cho thấy xu hướng này là Hội nghị cấp cao "3+3" đầu tiên giữa Việt Nam và Trung Quốc diễn ra ngày 16/03 với sự tham dự của các bộ trưởng Công An, Quốc Phòng và Ngoại Giao hai nước. Sau hội nghị, tổng bí thư Tô Lâm đã có cuộc gặp riêng với phái đoàn Trung Quốc. Đây là một mắt xích trong chuỗi tiếp xúc cấp cao giữa Bắc Kinh và Hà Nội kể từ tháng 10/2025, khi ông Tô Lâm gặp thủ tướng Trung Quốc Lý Cường bên lề cuộc duyệt binh tại Bắc Triều Tiên. Cuộc gặp này diễn ra chỉ một tháng sau cuộc gặp đầu tiên giữa ông Tô Lâm và tổng thống Mỹ Donald Trump và cho thấy Hà Nội vẫn mong muốn duy trì quan hệ chặt chẽ với Bắc Kinh nhằm củng cố vị thế của mình trước các sức ép từ Washington.
    RFI Tiếng Việt chân thành cảm ơn giảng viên-nhà nghiên cứu Laurent Gédéon, Đại học Công giáo Lyon và Viện Đông Á - IAO, Trường Sư phạm Lyon tại Pháp.
    Đọc thêmTô Lâm và canh bạc cải cách của Việt Nam trong sóng gió toàn cầu
  • Chiến tranh Trung Đông khiến Việt Nam phải dựa nhiều hơn vào điện than

    22/06/2026
    Cũng như nhiều nước khác, trước tình hình nguồn cung dầu hỏa bị gián đoạn do chiến tranh Mỹ-Iran, để bảo đảm an ninh năng lượng, Việt Nam buộc phải dựa vào điện than nhiều hơn cho dù làm như vậy sẽ càng khó mà thực hiện các cam kết về chống biến đổi khí hậu.
    Theo Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA), hơn 80% lượng dầu thô và khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) đi qua eo biển Hormuz là được xuất khẩu sang châu Á. Việc tuyến hàng hải này bị phong tỏa đẩy khu vực vào tình thế vô cùng khó khăn. Đặc biệt, do nguồn cung khan hiếm, giá khí LNG đã tăng vọt ở thị trường châu Á, trong khi giá than tăng ít hơn nhiều, cho nên nhiều nước trong khu vực quay trở lại với điện than. 
    Trả lời RFI Việt ngữ ngày 12/05/2026, giáo sư Phạm Duy Hiển, nguyên Viện trưởng Viện nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt, cũng ghi nhận đây là tình hình chung của các nước châu Á:
    “Không chỉ riêng Việt Nam mà hầu hết nhiều nước ở châu Á và các nước lớn như Trung Quốc, Ấn Độ ... đều bị tác động. Trung Quốc là một nước có rất nhiều than, cho nên có lợi thế. Bây giờ họ quay sang sử dụng than nhiều hơn trong một thời gian, tuy cũng biết làm như thế là ảnh hưởng đến lời hứa của Trung Quốc về cắt giảm khí thải gây hiệu ứng nhà kính.
    Các chuyên gia, các công ty về quản lý năng lượng lớn thế giới đều dự báo Trung Quốc trong 5 năm tới vẫn phải dựa vào việc mở rộng các nhà máy điện chạy than, chứ không có cách nào khác cả. Ấn Độ cũng vậy. Còn những nước như Hàn Quốc và Nhật Bản trước tình hình hiện nay đều phải cho phép nâng lên tỷ lệ điện than.” 
    Theo nhận định của Discovery Alert, trang thông tin chuyên về khai thác mỏ trên thế giới, trong bài viết đăng ngày 13/04/2026, “không giống như các quốc gia phát triển có các nguồn năng lượng đa dạng và dự trữ chiến lược dồi dào, các nền kinh tế nhỏ hơn như Việt Nam thường phụ thuộc nhiều vào nhiên liệu nhập khẩu và thiếu tính linh hoạt về cơ sở hạ tầng để nhanh chóng chuyển đổi giữa các nguồn năng lượng trong trường hợp khẩn cấp về nguồn cung. Hơn nữa, các quốc gia này còn đối mặt với tác động của thị trường khí hóa lỏng (LNG) và sự biến động giá dầu, làm trầm trọng thêm tính dễ bị tổn thương của kinh tế.” 
    Discovery Alert ghi nhận việc Việt Nam dựa vào điện than khi chiến tranh Mỹ-Iran leo thang đã trở nên rõ nét trong tháng 3/2026, khi sản lượng điện than tăng vọt, chiếm 56% tổng sản lượng điện, mức cao nhất kể từ giữa năm 2025.
    Giáo sư Phạm Duy Hiển cho rằng trong thời gian tới, Việt Nam sẽ phải tiếp tục dựa nhiều vào điện than, vì các nguồn điện năng khác không đủ để đáp ứng nhu cầu:
    “Việt Nam hiện nay đã sống với điện than. Điện than bình thường chiếm tỷ lệ gần 50% công suất phát điện, cho nên Việt Nam cũng bị ảnh hưởng. Mà về điện than, Việt Nam phải đi mua thêm than của các nước như Indonesia và Trung Quốc, cụ thể là tháng 3 vừa rồi đã nhập đến mấy triệu tấn than. Dự kiến con số đó có thể sẽ phải tăng lên. Kinh phí để nhập khẩu than cũng lớn, nhưng bây giờ dầu sao thì vẫn hơn là không có. Cho nên tạm thời trong một thời gian phải sử dụng điện than và theo tôi nghĩ Việt Nam cũng chưa có cách nào khác.
    Còn nếu dựa vào những nguồn năng lượng khác, thì bây giờ nguồn năng lượng tái tạo cũng đã được khai thác khá nhiều rồi và cũng có tác dụng nhất định. Nhưng nguồn năng lượng này cũng hạn chế, không thể nâng lên nhiều hơn nữa. 
    Gần đây nhiều người nói về điện hạt nhân. Nếu có được thì điện hạt nhân sẽ là một giải pháp tương đối lớn để giải quyết vấn đề thiếu điện thay cho than. Đó là một loại năng lượng sạch. Thế nhưng chưa biết là bao giờ mới có thể đặt bút ký với một đối tác bên ngoài để cung cấp nhà máy điện hạt nhân cho mình. Từ thời điểm đó thì sau hàng chục năm nữa may ra mới có điện.
    Kinh nghiệm của Bangladesh cho thấy nước này bắt đầu có kinh phí để xây dựng và có các hợp đồng liên chính phủ là vào năm 2017. Nhưng tới cuối năm 2026 thì may ra mới có thể đưa điện lên lưới được. Gần đây thế giới cũng hô hào đẩy mạnh điện hạt nhân, nhưng điện hạt nhân đâu có dễ làm đối với Việt Nam cũng như đối với những nước khác . Đó không phải là một công nghệ có sẵn như than. Nhà máy điện chạy than thì quá là cổ điển rồi, mua về là có thể lắp đặt và cho chạy được ngay. Còn điện hạt nhân thì cần bao nhiêu thứ: cơ sở hạ tầng, năng lượng, nhiên liệu, an toàn…. 
    Bây giờ có một hy vọng là khí thiên nhiên từ các mỏ khí mới được phát hiện được, sẽ giúp giải quyết vấn đề cân bằng năng lượng ở Việt Nam."
    Thế nhưng vấn đề là hiện nay công suất điện khí còn khiêm tốn của Việt Nam càng làm hạn chế các giải pháp thay thế trong thời kỳ khủng hoảng. Các nhà máy điện khí chỉ sản xuất được 2,1 TWh trong tháng 3 năm 2026, chiếm khoảng 7% tổng sản lượng điện. Hạn chế về cơ sở hạ tầng này có nghĩa là khí đốt tự nhiên không thể đóng vai trò cơ chế thay thế tức thời khi giá năng lượng nhập khẩu tăng vọt, hoặc khi nguồn cung bị gián đoạn. 
    Việt Nam cũng đang phải sản xuất than nhiều hơn để đáp ứng cho các nhà máy nhiệt điện. Theo báo chí trong nước, ngày 15/04, bộ Nông Nghiệp và Môi Trường đã đề nghị chính phủ cho phép tăng công suất khai thác than, cụ thể là cho phép khai thác vượt không quá 15% công suất đối với các giấy phép khai thác than đang còn hiệu lực, nhằm đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia. Theo bộ này, “than trong nước tiếp tục giữ vai trò là nguồn năng lượng nền tảng và năng lực khai thác thực tế của các mỏ còn dư địa để tăng sản lượng”. 
    Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng II ở tỉnh Hà Tĩnh cũng vừa được khánh thành ngày 18/04. Đây là dự án hợp tác giữa Nhật Bản và Hàn Quốc, trong đó 60% cổ phần thuộc về các công ty Nhật Bản đứng đầu là tập đoàn Mitsubishi và 40% cổ phần thuộc về Tập đoàn Điện lực Hàn Quốc. Với tổng công suất hơn 1.300MW, Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng II được giới thiệu là sử dụng “công nghệ hiện đại nhất đối với các nhà máy nhiệt điện than tại Việt Nam”, làm giảm lượng tiêu hao nhiên liệu dẫn đến cắt giảm phát thải.
    Vấn đề đặt ra là phải làm sao hạn chế tác động của các nhà máy điện than đối với môi trường và khí hậu, bởi vì Việt Nam còn phải thực hiện những cam kết với quốc tế về chống biến đổi khí hậu. Giáo sư Phạm Duy Hiển ghi nhận:
    “Các nhà máy điện chạy than bây giờ cũng sử dụng những công nghệ tương đối là tiên tiến, tránh ô nhiễm môi trường. Ô nhiễm môi trường nay cũng đỡ một phần là bởi vì ngày xưa các nhà máy phát ra bừa bãi từ ống khói chứ bây giờ thì có những quy chế nhất định. Các khí thải từ nhà máy điện than thì cũng đã bắt đầu được xử lý để không gây ô nhiễm môi trường. Rồi còn phải xử lý những xỉ than. Lâu lâu thì vẫn thấy nói có ô nhiễm chỗ này chỗ khác, nhưng tôi chắc là dần dần rồi cũng phải giải quyết. Ô nhiễm ở chỗ nào thì người dân ở đó sẽ phản ảnh, các cơ quan có trách nhiệm phải giải quyết.
    Thực ra mà nói thì dùng điện than không chỉ làm tăng lượng khí CO2, mà còn có rất nhiều khí độc khác từ nhà máy điện than thải ra. Trung Quốc đã thành công trong vấn đề này, cho nên bắt đầu từ 2006, tức là cách đây đến 20 chục năm, họ đã có quyết định của nhà nước là bắt buộc giảm phát thải các cái khí độc từ các nhà máy điện chạy than. Và họ đã thành công nhiều, tức là giảm ô nhiễm khá nhiều. Thế thì bây giờ nếu sản lượng điện than nhiều quá, thì có lẽ cũng phải đề nghị nhà nước có một cách kiểm tra toàn diện, làm thế nào để các khí phát thải ô nhiễm, không chỉ CO2 và các khí ô nhiễm khác đều thấp, phù hợp với các tiêu chuẩn về môi trường ở Việt Nam." 
    Cũng theo chiều hướng đó, Việt Nam dự kiến sẽ đóng cửa các nhà máy điện than cũ trên 40 năm tuổi, nếu các nhà máy này không thể chuyển đổi sang sử dụng nhiên liệu sạch như hydrogen, amoniac xanh. Cụ thể, ngày 23/03, chính phủ Hà Nội đã phê duyệt "Đề án cập nhật triển khai tuyên bố chính trị thiết lập quan hệ đối tác chuyển đổi năng lượng công bằng" (JETP).   Sau năm 2030, chính phủ yêu cầu không xây mới nhà máy điện than, đồng thời đàm phán đóng cửa với các nhà máy có tuổi thọ trên 40 năm, không thể chuyển đổi nhiên liệu và không thể đáp ứng lộ trình giảm thải khí nhà kính.
  • Việt Nam : Mắt xích quan trọng trong chiến lược thay đổi quốc phòng của Nhật Bản

    15/06/2026
    Tháng 04/2026, Nhật Bản “sửa đổi ba nguyên tắc về chuyển giao các thiết bị và công nghệ quốc phòng” để xây dựng chiến lược quốc phòng mới, trong đó có mục đích mở rộng hoạt động xuất khẩu sang cả các loại vũ khí sát thương. Một cơ chế mới cũng đã được thành lập - Chương trình Hỗ trợ an ninh chính thức (OSA) - nhằm mục đích thúc đẩy hợp tác kỹ thuật và trang thiết bị quốc phòng. Và Việt Nam được Nhật Bản xác định là ứng cử viên ưu tiên trong chương trình OSA.
    Những thay đổi mới trong chính sách quốc phòng của Nhật Bản có tạo thêm những cơ hội mới cho hợp tác với Hà Nội trong lĩnh vực này không ? RFI Tiếng Việt phỏng vấn nghiên cứu sinh Nguyễn Thế Phương, chuyên về lĩnh vực an ninh hàng hải, Đại học New South Wales, Úc.
    RFI : Trả lời báo tài chính Nikkei Asia ngày 23/04/2026, ông Minoru Kihara, chánh văn phòng thủ tướng Nhật Bản, cho biết Tokyo đã cho phép “sửa đổi ba nguyên tắc về chuyển giao các thiết bị và công nghệ quốc phòng”. Nội dung chính sách mới của Nhật Bản là gì? Tại sao Tokyo lại thay đổi chính sách vào thời điểm này ?
    Nguyễn Thế Phương : Sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, toàn bộ tư duy chiến lược của Nhật là tập trung vô phát triển kinh tế nội địa và tư duy chiến lược của Nhật là chủ hòa.
    Việc Nhật Bản thay đổi “ba nguyên tắc về chuyển giao các thiết bị quốc phòng” nằm trong sự thay đổi căn bản trong tư duy quốc phòng, văn hóa chiến lược của họ kể từ khoảng đầu thế kỷ thứ XXI với sự trỗi dậy của Trung Quốc, môi trường an ninh khu vực diễn biến ngày càng phức tạp : Sự gia tăng sức mạnh của các hoạt động đơn phương mà nhiều học giả nói là “cố tình thay đổi trạng thái trật tự” của Trung Quốc, đặc biệt là những vấn đề tranh chấp trên biển. Đối với Nhật Bản, một trong những mối nguy nữa, đó là mối đe dọa từ Bắc Triều Bắc.
    Cũng nói thêm một chút, nước Mỹ dưới thời Donald Trump mong muốn đồng minh, đặc biệt là những đồng minh hiệp ước của họ, có những chính sách và có tiếng nói mạnh mẽ hơn trong việc tự lực xây dựng năng lực quốc phòng, chứ không còn hoàn toàn dựa vào Mỹ với tư cách là một quốc gia bảo trợ an ninh nữa.
    Điểm thứ ba là điểm mà nhiều người bỏ qua, đó là Nhật Bản cần một cách tiếp cận mới hơn để làm mới ngành công nghệ quốc phòng trong nước. Bởi vì từ trước tới nay, Nhật Bản cấm xuất khẩu trang thiết bị quốc phòng và vũ khí ra nước ngoài. Toàn bộ hạn chế về mặt xuất khẩu này khiến cho ngành công nghiệp Nhật, đặc biệt là công nghiệp quốc phòng, bị hạn chế tính cạnh tranh, đặc biệt trong bối cảnh hiện nay, với những cuộc xung đột khắp nơi trên thế giới thì thị trường vũ khí bắt đầu mang lại lợi nhuận rất lớn. Và Nhật Bản dường như cũng muốn bắt đầu thay đổi cách tiếp cận và tham gia vào thị trường công nghiệp quốc phòng chủ động hơn.
    Đọc thêmViệt Nam, Nhật Bản "mạnh mẽ" chống lại việc làm thay đổi nguyên trạng các vùng biển trong khu vực
    Và cuối cùng là yếu tố nội bộ, đó là sự thay đổi về mặt tư duy của liên minh cầm quyền Nhật Bản, bắt đầu từ thời Shinzo Abe. Cách đây khoảng 10-15 năm, đảng Dân Chủ Tự Do đề xuất Chiến lược Ấn Độ-Thái Bình Dương. Việc này cho thấy rằng đảng Dân Chủ Tự Do mong muốn đưa nước Nhật ra khỏi tư duy chủ hòa và tham gia nhiều hơn về việc tái định hình cấu trúc an ninh khu vực.
    Đây là bốn điểm tạm gọi là “bốn nền tảng” để giải thích tại sao Nhật Bản bắt đầu phải thay đổi nguyên tắc về chuyển giao thiết bị công nghệ quốc phòng.
    Với việc thay đổi nguyên tắc mới, họ sẽ bắt đầu không giới hạn thiết bị chuyển giao, mà sẽ mở rộng tới những loại trang thiết bị có thể là sát thương, ví dụ vũ khí tấn công, xe tăng, máy bay và những trang bị khác.
    Điểm thứ hai, Nhật Bản cho phép hợp tác phát triển các loại vũ khí song phương, một ví dụ ở đây là phát triển máy bay chiến đấu thế hệ thứ năm giữa Nhật, Anh và Ý. Điểm này sẽ cho phép Nhật chủ động hơn, thích ứng linh hoạt hơn trong chính sách phát triển công nghiệp quốc phòng.
    RFI : Việt Nam thiết lập quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với Nhật Bản. Việt Nam là quốc gia thứ 11 ký một thỏa thuận chuyển giao thiết bị, công nghệ quốc phòng với Nhật Bản. Cho đến nay, Tokyo hỗ trợ Hà Nội như thế nào trong khuôn khổ này ?
    Nguyễn Thế Phương : Trước đây, việc hỗ trợ về mặt chuyển giao thiết bị hoặc công nghệ quốc phòng song phương, chủ yếu Việt Nam sẽ là bên nhận. Những hỗ trợ này chủ yếu xoay quanh việc nâng cao năng lực nhận thức hàng hải, an ninh biển và chủ yếu liên quan đến những loại trang thiết bị vũ khí phi sát thương.
    Điểm nổi bật thứ nhất là việc chuyển giao tàu tuần tra và phương tiện giúp Việt Nam có thể cải thiện năng lực tuần tra hàng hải, tiêu biểu là việc Việt Nam nhận một số loại tàu cảnh sát biển loại biên của Nhật Bản. Những tàu này thực ra vẫn rất tốt và vẫn phục vụ rất hiệu quả trong quá trình Việt Nam bảo vệ lợi ích trên biển ở thời điểm hiện tại. Đây là khoản hỗ trợ lớn nhất.
    Đọc thêmViệt Nam, Nhật Bản đạt thỏa thuận về chuyển giao công nghệ quốc phòng
    Thứ hai là thiết bị giám sát công nghệ hàng hải, ví dụ radar, các thiết bị lặn, công nghệ viễn thám, thông tin liên lạc phục vụ cho quá trình tìm kiếm, cứu nạn, giám sát thực địa trên biển.
    Và thứ ba là đào tạo, nâng cao năng lực chuyên môn cho các lực lượng của Việt Nam, đặc biệt là lực lượng cảnh sát biển và kiểm ngư. Đây là điểm mà hai bên thường xuyên tiến hành : Trao đổi đoàn, trao đổi tàu, lực lượng Việt Nam qua Nhật Bản để tập huấn. Ở đây tập trung vào một số vấn đề phi tác chiến, ví dụ quân y, phá bom mìn, khắc phục hậu quả chiến tranh, an ninh mạng. Đối với quân đội còn có gìn giữ hòa bình.
    Đó là ba mảng mà Việt Nam nhận được hỗ trợ có thể nói là rõ ràng nhất từ Nhật Bản thông qua chương trình chuyển giao thiết bị và công nghệ quốc phòng.
    RFI : Việt Nam được Nhật Bản xác định là ứng cử viên ưu tiên cho Chương trình Hỗ trợ an ninh chính thức (OSA). Anh có thể giải thích OSA là gì ? Theo một quan chức chính phủ Nhật Bản, “quá trình này đôi khi có thể mất thời gian”. Những nước được chọn để hợp tác an ninh thông qua OSA có vai trò như thế nào trong chiến lược của Nhật Bản ?
    Nguyễn Thế Phương : OSA (Official Security Assistance) là hỗ trợ an ninh chính thức. Đây là một trong những chương trình rất mới, là một công cụ đối ngoại rất mới của Nhật, được thông qua trong chiến lược an ninh quốc gia cuối năm 2022.
    ODA, là một khái niệm mà chúng ta rất quen thuộc, chỉ giới hạn nghiêm ngặt (ở đây từ “nghiêm ngặt” là từ quan trọng) cho phát triển kinh tế-xã hội. Cho nên nếu như Nhật Bản muốn hỗ trợ về mặt an ninh quốc phòng cho các quốc gia khác thì họ phải tạo ra một cơ chế hoàn toàn mới, chứ không phải là ODA. Thì OSA chính là kết quả. Nói một cách đơn giản OSA chính là ODA nhưng chỉ được dùng cho lĩnh vực an ninh và quân sự.
    Quá trình này rất mất thời gian bởi vì Nhật Bản sẽ phải thiết lập quy trình khảo sát nhu cầu của bên nhận, đối chiếu nhu cầu đó với pháp luật nội bộ của Nhật, mà chúng ta biết là pháp luật của Nhật về mặt này rất khắt khe. Và nó yêu cầu cả bên cho - ở đây là Nhật - và cả bên nhận - là các quốc gia khác - phải thảo luận rất lâu và rất kỹ để có thể đưa ra được một danh sách tiếp nhận các loại hỗ trợ cho phù hợp.
    Đọc thêmNhật Bản và Việt Nam tăng cường hợp tác an ninh, ủng hộ thương mại tự do
    Danh sách các quốc gia được hỗ trợ và có tiềm năng nhận được hỗ trợ OSA từ Nhật Bản vào thời điểm hiện tại chỉ tầm 12 nước, chủ yếu là các nước ở Ấn Độ Dương, Thái Bình Dương, trong đó có 5 nước Đông Nam Á (Philippines, Indonesia, Malaysia, Việt Nam và Thái Lan). Nam Á có hai nước là Bangladesh với Sri Lanka. Ngoài ra còn một số quốc đảo Thái Bình Dương, ví dụ Papua New Guinea, Tonga. Có thể thấy rõ là có Đông Nam Á, khu vực cốt lõi trong chiến lược Ấn Độ-Thái Bình Dương của Nhật Bản, và đặc biệt là khu vực các quốc đảo Nam Thái Bình Dương hiện đang là khu vực cạnh tranh địa lý khá gay gắt giữa các quốc gia đồng minh của Mỹ và Trung Quốc.
    Gần đây, Tokyo tăng ngân sách dành cho OSA trong năm tài khóa 2026 lên tầm 112 triệu đô la. Số lượng sẽ không lớn đứng dưới góc độ về mặt ngân sách. Nhưng trong tương lai, ngân sách mà Nhật dành cho OSA sẽ ngày càng tăng và sẽ dựa vào khả năng nước Nhật thích ứng với sự thay đổi không ngừng của môi trường an ninh bên ngoài, cũng như trong chính sách đối nội của Nhật Bản, đặc biệt là việc Nhật điều chỉnh ba nguyên tắc hỗ trợ vũ khí và công nghệ quốc phòng. Trong tương lai, số lượng nước được nhận sẽ tăng lên, cũng như nội dung của OSA cũng sẽ được mở rộng hơn.
    RFI : Với chiến lược quốc phòng mới của Tokyo mở ra việc bán vũ khí sát thương, liệu trong tương lai, có thể có một chương trình hợp tác sâu rộng hơn về lĩnh vực này giữa Việt Nam và Nhật Bản ?
    Nguyễn Thế Phương : Nhiều người kỳ vọng rằng hợp tác giữa Việt Nam và Nhật Bản trong tương về chuyển giao trang thiết bị cũng như là hỗ trợ OSA của Nhật Bản đối với Việt Nam sẽ được mở rộng. Tuy nhiên như đã trình bày, quá trình này sẽ không nhanh. Thứ nhất một phần cũng bởi vì phía Nhật Bản, như đã nói, họ sẽ rất kỹ trong vấn đề lựa chọn chuyển giao, tính minh bạch ra sao.
    Đọc thêmNhật Bản và Việt Nam nâng cấp quan hệ lên thành đối tác chiến lược toàn diện
    Thứ hai, nhu cầu của Việt Nam ở đây là gì ? Nhu cầu Việt Nam vẫn sẽ có. Nhưng theo tôi, trong tương lai gần, khoảng 5 năm, hợp tác quốc phòng giữa Việt Nam và Nhật Bản cũng sẽ chủ yếu xoay quanh nội dung về an ninh hàng hải, hỗ trợ các loại tàu cảnh sát biển, hỗ trợ Việt Nam đóng một số loại tàu cho cảnh sát biển hoặc là cho kiểm ngư ở trong nước, nhận một số loại trang thiết bị liên quan tới bảo đảm an ninh hàng hải, cũng như là nhận thức hàng hải ở khu vực, hỗ trợ liên quan tới vệ tinh chẳng hạn và tiếp tục huấn luyện.
    Còn những vũ khí tác chiến, theo tôi, sẽ phải là tương lai xa, cho tới khi nào Nhật Bản hoàn toàn dỡ bỏ những hạn chế về mặt xuất khẩu vũ khí tiến công và cho tới khi nào ngành công nghiệp quốc phòng của Nhật Bản trở nên cạnh tranh hơn, thì khi đó Việt Nam mới bắt đầu xem xét có hay không lựa chọn các loại vũ khí tác chiến của Nhật Bản như là một lựa chọn trong quá trình hiện đại hóa quân đội. Còn ở thời điểm hiện tại, khả năng đó rất là thấp.
    RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn anh Nguyễn Thế Phương, Đại học New South Wales, Úc.
  • Công ước Hà Nội và phòng chống tội phạm mạng ở Việt Nam

    08/06/2026
    Ngày 07/04/2026, tổng bí thư Đảng kiêm chủ tịch nước Tô Lâm đã ký quyết định phê chuẩn Công ước của Liên Hiệp Quốc về chống tội phạm mạng (Công ước Hà Nội), đưa Việt Nam trở thành quốc gia đầu tiên ở Đông Nam Á và là nước thứ hai trên thế giới chính thức phê chuẩn Công ước này.
    Công ước mang tên Hà Nội là vì lễ ký Công ước của Liên Hiệp Quốc về chống tội phạm mạng đã được tổ chức tại Hà Nội vào tháng 10/2025. Cho tới nay đã có 75 quốc gia ký công ước này. Tuy nhiên, Công ước Hà Nội sẽ chỉ có hiệu lực một khi có đủ 40 quốc gia chính thức phê chuẩn để trở thành thành viên chính thức. 
    Đông Nam Á nói chung và Việt Nam nói riêng đang ngày càng trở thành một trong những trung tâm của tội phạm mạng trên thế giới. Trong một bài viết đăng trên mạng ngày 09/03/2026, công ty Okta, chuyên về quản lý danh tính ( Identity Management ), cho biết: “Một hệ sinh thái tội phạm mạng rộng lớn bắt nguồn từ Việt Nam đã được liên kết với các chiến dịch đăng ký tài khoản giả mạo quy mô lớn nhắm vào các nhà cung cấp dịch vụ và nền tảng trực tuyến trên toàn thế giới. Các nhà nghiên cứu đã truy tìm hoạt động này đến một cụm cơ sở hạ tầng được đặt tên nội bộ là O-UNC-036, sử dụng địa chỉ email dùng một lần và bot tự động để tạo ra các danh tính kỹ thuật số giả mạo ở quy mô đáng báo động.”
    Theo công ty này, các tội phạm sử dụng những tài khoản trực tuyến gian lận như một cánh cửa để thực hiện các hoạt động tội phạm tài chính, từ thư rác và lừa đảo trực tuyến đến các vụ lừa đảo cá nhân. Các tổ chức tội phạm có tổ chức ở Đông Nam Á, đặc biệt là ở khu vực gần biên giới Trung Quốc, Miến Điện, Thái Lan và Cam Bốt dùng những thủ đoạn này để dụ dỗ nạn nhân vào các vụ lừa đảo tiền điện tử, lừa đảo tình cảm và tống tiền tình dục,...
    Các nhà phân tích của Okta đã xác định được một lượng lớn các đăng ký tài khoản đáng ngờ liên kết với nhiều tên miền email dùng một lần, trở thành sợi dây liên kết quan trọng giữa hoạt động này với một thị trường lừa đảo rộng lớn hơn có trụ sở tại Việt Nam. Thiệt hại về tài chính từ hoạt động này là rất lớn. Trong một báo cáo tháng 4/2025, Văn phòng Liên Hiệp Quốc về Ma túy và Tội phạm (UNODC) đã chỉ ra rằng thị trường ngầm này hiện có những người chuyên buôn bán bộ công cụ lừa đảo, dữ liệu bị đánh cắp, phần mềm độc hại, công cụ dựa trên trí tuệ nhân tạo (AI) và dịch vụ rửa tiền được sử dụng để nhắm mục tiêu vào các nạn nhân trên toàn cầu.
    Chính là để phòng chống những hoạt động lừa đảo trực tuyến như trên mà Công ước Hà Nội thiết lập một khuôn khổ pháp lý quốc tế toàn diện về phòng ngừa, phát hiện, điều tra, truy tố và hợp tác quốc tế trong xử lý tội phạm mạng.
    Trả lời RFI Việt ngữ ngày 22/05/2026, nhà tội phạm học Lương Thanh Hải, giảng viên Trường Tư pháp hình sự và tội phạm học Griffith, Úc và là chủ tịch Hội đồng nghiên cứu về tội phạm ma túy tại châu Á của Viện nghiên cứu AICS (Hoa Kỳ), cho biết Việt Nam đã chuẩn bị như thế nào cho việc tham gia Công ước Hà Nội :
    "Thứ nhất là Việt Nam đã hoàn thiện khung pháp lý nội địa, đặc biệt là trong các lĩnh vực an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu và xử lý chứng cứ điện tử. Có thể nói rằng trong những năm trở lại đây, Quốc Hội của Việt Nam và các cơ quan, trong đó có vai trò rất là lớn bộ Công An Việt Nam, đã điều chỉnh, bổ sung và ban hành các luật, khung pháp lý nội địa rất  kịp thời trong lĩnh vực an ninh mạng và xử lý điện tử, chứng cứ điện tử.
    Thứ hai là Việt Nam đã chuẩn bị khá kỹ trong việc nâng cao năng lực thực thi pháp luật, đặc biệt là đào tạo chuyên sâu cho các lực lượng điều tra tội phạm công nghệ cao. Song song với đó, đầu tư vào các hệ thống cơ sở hạ tầng số cũng rất là ổn định để kịp thời trước lúc tham gia Công ước Hà Nội.
    Thứ ba là tăng cường hợp tác quốc tế thông qua các cơ chế song phương, đa phương mà Việt Nam đã tham gia. Việt Nam không tham gia Công ước Hà Nội một cách hình thức mà đang từng bước thích nghi với các chuẩn mực toàn cầu về quản trị an ninh mạng và phòng chống tội phạm công nghệ cao."
    Công ước Hà Nội quy định đầy đủ các vấn đề từ hình sự hóa hành vi phạm tội, thẩm quyền điều tra, dẫn độ, tương trợ tư pháp, đến bảo vệ dữ liệu cá nhân.
    Các hành vi như truy cập trái phép, đánh cắp dữ liệu, gian lận điện tử, tấn công cơ sở hạ tầng trọng yếu, sử dụng không gian mạng để tài trợ khủng bố hay rửa tiền bằng tài sản số đều được định danh rõ ràng. Quan trọng hơn, Công ước tạo ra “chuẩn mực pháp lý chung”, giúp các quốc gia phối hợp hiệu quả trong xử lý các vụ án xuyên biên giới.
    Việc tham gia Công ước giúp Việt Nam có thêm công cụ pháp lý quan trọng để nâng cao hiệu quả phòng ngừa, phát hiện, điều tra và xử lý tội phạm mạng. Trả lời RFI Việt ngữ, nhà tội phạm học Lương Thanh Hải giải thích:
    "Công ước Hà Nội quy định rất toàn diện các vấn đề về hình sự hóa tội phạm mạng, thẩm quyền điều tra, hợp tác quốc tế, dẫn độ, hỗ trợ tư pháp và bảo vệ dữ liệu và cá nhân. Công ước mang lại cho Việt Nam một số công cụ pháp lý rất quan trọng, đáng chú ý ở đây là chia sẻ thông tin và chứng cứ điện tử nhanh hơn giữa các quốc gia. Có thể nói đây là một trong những    yếu tố then chốt trong điều tra tội phạm mạng xuyên biên giới.
    Ngoài ra, Công ước Hà Nội còn hỗ trợ cho phía Việt Nam và các cơ quan tư pháp hình sự của Việt Nam hài hòa các định nghĩa, các cách tiếp cận về pháp lý liên quan đến tội phạm mạng giữa các quốc gia. Thứ hai là tăng cường cơ chế tương trợ tư pháp và dẫn độ khi triển khai Công ước Hà Nội. Thứ ba là Công ước này sẽ hỗ trợ trực tiếp các cuộc điều tra chung.
    Khi được thông qua, Công ước Hà Nội sẽ có thêm cơ sở pháp lý, hành lang pháp lý cụ thể và chính thống để tiến hành các cuộc điều tra chung, thành lập các đội điều tra chung ( investigation teams ) giữa các nước trong khu vực và thế giới, khi phát sinh các yếu tố liên quan đến phòng chống tội phạm mạng, đặc biệt là trong các vụ lừa đảo xuyên quốc gia và rửa tiền kỹ thuật số. Điều này giúp đáng kể khoảng trống pháp lý mà tội phạm mạng thường lợi dụng. Hiện nay không gian mạng rất khó kiểm soát và không có biên giới."
    Những công cụ mới mà Công ước Hà Nội mang lại sẽ tác động như thế nào đến việc phòng chống tội phạm mạng ở Việt Nam, nhà tội phạm học Lương Thanh Hải dự báo:
    "Ở đây ta có thể tiếp cận từ hai góc độ. Góc độ thứ nhất là tác động của Công ước Hà Nội đối với Việt Nam. Góc độ thứ hai là tác động của Công ước Hà Nội đối với các đối tác của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới.
    Đầu tiên là trong nước, Công ước Hà Nội sẽ giúp cho Việt Nam, cụ thể là các cơ quan chức năng như bộ Công An hoặc bộ Thông Tin Truyền Thông, chuẩn hóa quy trình điều tra và xử lý tội phạm mạng, vừa bám theo Công ước Hà Nội, vừa nội hóa các luật nội địa Việt Nam đã ban hành, ví dụ như Luật an ninh mạng và gần đây nhất là luật về trí tuệ nhân tạo AI. Nó sẽ giúp chuẩn hóa quy trình điều tra và xử lý tội phạm liên quan đến không gian mạng, đồng thời nâng cao tính minh bạch và hiệu quả trong thu thập chứng cứ điện tử, thúc đẩy cách tiếp cận dựa trên dữ liệu và bằng chứng trong thực thi pháp luật của các cơ quan ở Việt Nam. 
    Cấp độ thứ hai là với các đối tác của Việt Nam trong khu vực ASEAN, cũng như các nước ngoài ASEAN, trong đó có Úc, Châu Âu, hay Mỹ. Ở cấp độ xuyên quốc gia, tác động sẽ rõ nét hơn. Công ước tạo nền tảng cho việc phối hợp hành động nhanh hơn giữa các quốc gia, đặc biệt là trong việc truy xét dòng tiền, xác định máy chủ và triệt phá các mạng lưới tội phạm hoạt động ở nhiều quốc gia cùng một lúc trên không gian mạng. Tuy nhiên ở đây tôi cũng cần lưu ý rằng hiệu quả thực sự sẽ phụ thuộc rất nhiều vào mức độ thực thi và niềm tin giữa các quốc gia. Bởi vì xây dựng niềm tin pháp lý, chia sẻ thông tin ở không gian mạng hiện nay có lúc vẫn bị nhiều nước, trong đó có Việt Nam, đánh giá là những vấn đề nhạy cảm. Việc chia sẻ giữa các đối tác trong khu vực và ngoài khu vực đều có những hạn chế nhất định. Thậm chí nhiều lúc chưa có sự tin tưởng một cách tuyệt đối."
    Trong việc phòng chống tội phạm mạng, Việt Nam từ nhiều năm qua vẫn có sự hỗ trợ của Cảnh sát Liên bang Úc ( AFP ). Tháng 5/2026, Cảnh sát Liên bang Úc đã phối hợp với bộ Công An Việt Nam và cảnh sát các nước Đông Nam Á khác tổ chức một hội thảo ở Đà Nẵng về nâng cao hợp tác giữa các bên trong lĩnh vực. Là một trong những người tham gia hội thảo, nhà tội phạm học Lương Thanh Hải cho biết:
    "Hiện nay Cảnh sát Liên bang Úc ( AFP ) có một hệ thống sĩ quan liên lạc cảnh sát quốc tế phủ rộng toàn cầu, trong đó có Việt Nam. Văn phòng Việt Nam đã mở hơn 20 năm nay. Có thể nói, theo đánh giá của cá nhân tôi, văn phòng đại diện sĩ quan liên lạc cảnh sát Úc ở Việt Nam đã đóng một vai trò rất lớn là một cầu nối quan trọng để kết nối lực lượng thực thi pháp luật của hai nước trong việc cập nhật, trao đổi thông tin, phối hợp điều tra, xử lý, dẫn độ cũng như giải quyết các vụ án mang tính chất xuyên quốc gia.
    Sự kiện ở Đà Nẵng có ba nội dung trọng tâm mà hiện nay Cảnh sát Liên bang Úc nâng cao hiệu quả hợp tác với đối tác Việt Nam. Thứ nhất là chia sẻ thông tin tình báo và dữ liệu tội phạm mạng, một trong những điểm rất quan trọng. Hội thảo vừa rồi cũng đánh giá cao sự chia sẻ giữa các đối tác trong khu vực ASEAN và lực lượng cảnh sát Úc.
    Thứ hai là hỗ trợ đào tạo và nâng cao năng lực cho lực lượng thực thi pháp luật ở Việt Nam, thông qua nhiều kênh khác nhau, ví dụ như kênh về chương trình đào tạo quản lý lực lượng thực thi pháp luật khu vực châu Á - Thái Bình Dương, được tổ chức thường niên mỗi năm khoảng hai đến ba khóa, tùy vào các chủ đề liên quan đến tội phạm xuyên quốc gia. Những năm gần đây ưu tiên đặc biệt là các vụ lừa đảo scam qua mạng ( scam ) rất là nhiều. Qua kênh đào tạo này thì hiện đã có hơn 1000 cán bộ thực thi pháp luật, trong đó có nhiều cán bộ của Việt Nam đã được đào tạo cùng với các nước ASEAN và khu vực Châu Á Thái Bình Dương. Chính điểm thứ hai này đã tạo ra được một lực lượng rất là thiện chiến trong phòng chống tội phạm mạng và các vấn đề liên quan đến an ninh mạng cho phía Việt Nam mà phía Úc đã hỗ trợ.
    Hợp tác thứ ba nữa mà tại diễn đàn này tôi cũng đã tập trung trao đổi, đó là chia sẻ những kinh nghiệm, phương thức, chiến thuật, các hoạt động phối hợp điều tra các vụ án xuyên biên giới, đặc biệt liên quan đến các vụ lừa đảo trực tuyến, rửa tiền số và bóc lột lao động trong các đường dây lừa đảo.
    Có thể nói trong bối cảnh Đông Nam Á đang nổi lên như một điểm nóng của các trung tâm lừa đảo xuyên quốc gia, hợp tác Việt Nam và Cảnh sát Liên bang Úc đóng một cái vai trò quan trọng không chỉ ở khía cạnh thực thi pháp luật, mà còn trong việc chia sẻ các kinh nghiệm thực chiến và xây dựng các chiến lược phòng ngừa mang tính nhất dài hạn."
  • Việt Nam : Các đại dự án giúp bảo tồn mục tiêu tăng trưởng 10%?

    01/06/2026
    “Những nhà lãnh đạo ảnh hưởng nhất trong lịch sử hiện đại Việt Nam đều được nhớ đến vì đã dẫn dắt những chuyển đổi mang tính cấu trúc” (1). Chỉ riêng năm 2025, Việt Nam triển khai hơn 550 dự án cơ sở hạ tầng trị giá khoảng 200 tỉ đô la. Hàng trăm dự án khác (điện hạt nhân, đường sắt cao tốc…) chuẩn bị được thực hiện. Mục tiêu cuối cùng là đạt tăng trưởng GDP ít nhất 10% trong nhiệm kỳ 2026-2030 và đưa Việt Nam thành nước có thu nhập trung bình cao.
    Theo báo Vietnamnet ngày 15/04/2026, “thay vì dàn trải, nhiệm kỳ mới đang hướng tới ít dự án hơn nhưng mỗi dự án phải đủ lớn để kéo tăng trưởng, tạo việc làm và mở rộng không gian phát triển”. Liệu các đại dự án có đủ để kéo tăng trưởng lên không ? Làm thế nào để tăng trưởng đó được bền vững ? Những biến động địa-chính trị thế giới, đặc biệt là khủng hoảng dầu lửa ở Trung Đông, tác động như thế nào đến mục tiêu tăng trưởng của Việt Nam ?
    RFI Tiếng Việt phỏng vấn ông Éric Mottet, chuyên gia địa-chính trị Đông Nam Á và khu vực Ấn Độ-Thái Bình Dương, giám đốc nghiên cứu tại Trung Tâm Nghiên cứu về Ấn Độ - Thái Bình Dương (CREIP), Đại học Laval, Québec, Canada.
    RFI : Trước tiên, xin ông giải thích những yếu tố nào góp phần vào sự tăng trưởng của một quốc gia ?
    Éric Mottet : Theo ước tính có khoảng bảy yếu tố then chốt tác động đến tăng trưởng kinh tế, có thể hoạt động đồng thời hoặc riêng lẻ. Trước hết là lao động, bao gồm quy mô dân số trong độ tuổi lao động, tỷ lệ việc làm, trình độ học vấn, kỹ năng và chất lượng đào tạo của người lao động. Một lực lượng lao động năng động, được đào tạo tốt sẽ tạo ra của cải hiệu quả hơn.
    Tiếp theo là vốn vật chất và vốn con người, tức là chất lượng máy móc được sử dụng, cơ sở hạ tầng, công nghệ, kỹ năng và bí quyết. Một quốc gia càng đầu tư nhiều vào nhà máy, đường xá và máy móc, thì càng giúp tăng năng suất và sản lượng quốc gia.
    Yếu tố thứ ba là tiến bộ công nghệ. Quốc gia đó có đầu tư vào đổi mới, công nghệ mới, nghiên cứu và phát triển không ? Bởi vì đây là một động lực rất cần thiết cho tăng trưởng, ít nhất là trong dài hạn. Ví dụ trí tuệ nhân tạo (AI), hiện tại đã rất quan trọng và sẽ còn quan trọng hơn nữa trong tương lai.
    Đọc thêmDự án nhà máy hạt nhân: Nhật Bản rút đi, Việt Nam sẽ khó đạt mục tiêu về điện nguyên tử
    Tiếp theo, cần phải nói đến thể chế và khuôn khổ chính trị, tức là sự ổn định chính trị, tôn trọng pháp luật và quyền sở hữu nói riêng, cũng như hiệu quả quản lý nhà nước. Nói cách khác, một môi trường ổn định khuyến khích đầu tư, nhất là đầu tư nước ngoài, và tạo dựng niềm tin là điều vô cùng cần thiết để tạo ra của cải và phát triển kinh tế.
    Sự mở cửa kinh tế nằm trong số những tiêu chí khác cũng rất quan trọng. Thương mại quốc tế giúp tiếp cận thị trường mới, công nghệ mới và tài nguyên thiên nhiên như dầu khí, khoáng sản, đất nông nghiệp, từ đó tăng trưởng kinh tế. Tất cả những yếu tố này có thể thúc đẩy tăng trưởng, nhưng không phải là thiết yếu. Ví dụ, ở châu Á, Nhật Bản và Hàn Quốc phát triển mạnh dù nguồn tài nguyên hạn chế.
    Cuối cùng là nhu cầu nội địa. Mức tiêu dùng hộ gia đình, đầu tư kinh doanh, chi tiêu công của chính phủ Việt Nam như thế nào ? Nhu cầu mạnh mẽ sẽ kích thích sản xuất và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của một quốc gia.
    RFI : Các dự án lớn đóng vai trò như thế nào trong tăng trưởng của một quốc gia ? Chúng có góp phần duy trì tốc độ tăng trưởng không ?
    Éric Mottet : Có, các dự án lớn - tức là các dự án cơ sở hạ tầng, công nghiệp, năng lượng và công nghệ - đóng vai trò quan trọng trong sự tăng trưởng kinh tế của một quốc gia. Việc này diễn ra ở nhiều cấp độ.
    Thứ nhất, các công trình hạ tầng kích thích nền kinh tế ngắn hạn bằng cách tạo ra việc làm, tăng nhu cầu đối với vật liệu, dịch vụ và thiết bị xây dựng. Chẳng hạn, việc xây dựng đập hoặc đường cao tốc sẽ tạo ra doanh thu và hoạt động kinh tế ngay lập tức. Sau đó, năng suất được cải thiện trong dài hạn, ví dụ các cơ sở hạ tầng giao thông giúp giảm chi phí vận chuyển và thời gian di chuyển, tạo thuận lợi cho nền kinh tế phát triển.
    Điều này đặc biệt quan trọng ở một quốc gia như Việt Nam, vì giúp di chuyển hàng hóa và con người thuận lợi hơn, nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp và tăng khả năng cạnh tranh cả trong nước cũng như với các công ty nước ngoài. Cơ sở hạ tầng tốt cũng thu hút đầu tư nước ngoài, ví dụ việc xây dựng cảng mới, khu công nghiệp hay đặc khu kinh tế sẽ thu hút các công ty nước ngoài còn do dự. Hơn nữa, cơ sở hạ tầng chất lượng cao còn thúc đẩy tiến bộ công nghệ ; các dự án năng lượng tái tạo và thành phố thông minh kích thích đổi mới sáng tạo trên toàn quốc.
    Đọc thêmViệt Nam muốn thành “cứ điểm” sản xuất thế giới nhưng thiếu cơ sở hạ tầng
    Một yếu tố quan trọng khác là giảm bất bình đẳng lãnh thổ. Việc xây dựng cơ sở hạ tầng chất lượng trên toàn quốc có thể giúp kết nối các vùng xa xôi, nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ giáo dục, y tế và việc làm. Một tuyến đường bộ hay đường sắt có thể thay đổi đáng kể một khu vực nông thôn hoặc vùng sâu, vùng xa.
    Tuy nhiên, các dự án cơ sở hạ tầng quy mô lớn cũng có những hạn chế. Nhìn chung chúng có chi phí rất cao, có thể dẫn đến rủi ro nợ nần đáng kể cho một nước và cũng có thể gây ra nhiều vấn đề nếu bị quản lý kém hoặc có tham nhũng. Các dự án này cũng có thể gây tác động xấu đến môi trường.
    Theo tôi, tất cả các dự án cơ sở hạ tầng lớn đều không bảo đảm tăng trưởng nếu bị quy hoạch kém. Do đó, chúng phải được quy hoạch tốt, có hệ thống quản lý hiệu quả và thiết kế bền vững ngay từ đầu.
    RFI : Trong nhiệm kỳ 5 năm (2026-2030), Việt Nam sẽ triển khai nhiều dự án cơ sở hạ tầng quy mô lớn (đường sắt cao tốc, nhà máy điện hạt nhân, sân bay Long Thành, mạng lưới đường sắt đô thị tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh). Những dự án này có ý nghĩa và vai trò như thế nào  trong việc đạt được mục tiêu tăng trưởng ít nhất 10% do đảng và Quốc Hội Việt Nam đề ra cho nhiệm kỳ này ?
    Éric Mottet : Đúng là các dự án hạ tầng lớn trong kế hoạch 5 năm đến năm 2030 là trụ cột chiến lược và trọng tâm phát triển. Chúng là đòn bẩy quan trọng giúp nền kinh tế hướng tới mục tiêu tăng trưởng bình quân 10%, tương tự những gì Trung Quốc đã trải qua trong những năm 1990-2000, thậm chí là cả thập niên 2010. Các dự án này là động lực mạnh mẽ cho tăng trưởng ngắn hạn, như đã nói ở trên, vì sẽ huy động đầu tư công và tư nhân, tạo việc làm, thúc đẩy các ngành liên quan như xi măng, thép và logistics. Nhờ đó, chúng trở thành chất xúc tác mạnh, thúc đẩy kinh tế tức thời, và theo tôi, sẽ làm góp phần tăng GDP ngay khi được triển khai.
    Hơn nữa, các dự án hạ tầng lớn còn cho phép cải thiện cấu trúc năng suất của một quốc gia như Việt Nam. Khi hệ thống hạ tầng được nâng cấp, chi phí logistics giảm, thời gian vận chuyển được rút ngắn và độ tin cậy tăng lên, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho lưu thông hàng hóa và kết nối thương mại giữa các vùng. Chẳng hạn, tuyến đường sắt cao tốc Hà Nội - TP. HCM sẽ rút ngắn khoảng cách địa lý, tăng cường liên kết kinh tế Bắc - Nam, đồng thời góp phần củng cố sự gắn kết quốc gia. Và như vậy sẽ nâng cao sức thu hút của Việt Nam.
    Đọc thêmChuyển toàn bộ chuyến bay quốc tế về Long Thành: Giới chuyên gia Việt Nam quan ngại
    Bên cạnh đó, các dự án như sân bay Long Thành hay việc phát triển các đô thị hiện đại sẽ nâng cao vị thế của Việt Nam trong mạng lưới giao thông và thương mại quốc tế, cả về du lịch lẫn kinh tế. Những công trình này còn cho phép một thành phố lớn như TP. HCM cạnh tranh với những trung tâm logistics hàng đầu khu vực như Bangkok, Singapore hay Hồng Kông. Nhờ vậy, mô hình tăng trưởng cũng có cơ hội chuyển dịch. Ngoài ra, các dự án năng lượng như nhà máy điện hạt nhân, nếu được triển khai hiệu quả, sẽ bảo đảm nguồn cung điện ổn định và sẽ giúp nền kinh tế phát triển theo hướng cao cấp hơn.
    Tôi cho rằng tất cả những lý do này sẽ giúp củng cố tăng trưởng kinh tế. Và cần nhắc lại, nếu được triển khai một cách thông minh, bền vững và quản lý hiệu quả, những công trình cơ sở hạ tầng này sẽ giúp Việt Nam đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế hàng năm và đưa Việt Nam trở thành một nền kinh tế quan trọng tại châu Á.
    RFI : Liệu sự tăng trưởng này (một phần nhờ các dự án lớn) có bền vững không ?
    Éric Mottet : Các dự án cơ sở hạ tầng có thể bền vững, nhưng không phải tự nhiên mà có mà phụ thuộc vào cách chúng được thiết kế, tài trợ và tích hợp vào nền kinh tế. Để đạt hiệu quả, cần xem xét nhiều yếu tố quan trọng. Trước hết, hạ tầng phải thực sự thiết thực. Thực tế cho thấy ở nhiều nước như Trung Quốc, kể cả Việt Nam, vẫn tồn tại các công trình được đầu tư lớn nhưng hiệu quả sử dụng thấp. Vì vậy, tính hữu ích và đáp ứng nhu cầu kinh tế thực sự là tiêu chí hàng đầu. Khi được quản lý tốt, cơ sở hạ tầng sẽ hỗ trợ tăng trưởng dài hạn.
    Thứ hai, các dự án hạ tầng cần đóng vai trò thúc đẩy chuyển đổi sang nền kinh tế có năng suất cao hơn, thay vì chỉ tạo ra tác động ngắn hạn. Điều này đòi hỏi hạ tầng phải được quy hoạch với tầm nhìn dài hạn, từ 10 đến 30 năm, thậm chí là 40 năm. Một công trình chỉ mang lại hiệu ứng tạm thời trong giai đoạn xây dựng sẽ không có nhiều ý nghĩa. Vì vậy, tính bền vững cần được đặt trong tầm nhìn nhiều thập niên.
    Đọc thêmViệt Nam : Giấc mơ đường sắt cao tốc và bài toán 70 tỉ USD
    Bên cạnh đó, các dự án hạ tầng cũng cần được quản lý tài chính hiệu quả. Nợ công phải được kiểm soát ở mức an toàn và các dự án cần tạo ra hiệu quả kinh tế rõ rệt trong vòng 10-20 năm. Do đó, sự tăng trưởng được tài trợ này không nên phụ thuộc quá nhiều vào vay nợ mà cần hướng đến khả năng tự tạo nguồn thu và sinh lời trong thời gian hợp lý.
    Ngoài ra, để các công trình hạ tầng bền vững, chúng cần được triển khai theo hướng thân thiện với môi trường, tránh gây tác động tiêu cực lâu dài. Đồng thời, cần có cơ chế quản lý minh bạch, quy hoạch hiệu quả, có tính đến những tác động xã hội và môi trường mà mọi dự án hạ tầng lớn có thể gây ra khi được triển khai tại một khu vực nhất định.
    RFI : Chúng ta thấy một yếu tố mới xuất hiện : cuộc khủng hoảng năng lượng và dầu mỏ do chiến tranh ở Trung Đông. Yếu tố này sẽ tác động như thế nào đến các dự án lớn của Việt Nam và, quan trọng hơn, đến sự tăng trưởng của đất nước ?
    Éric Mottet : Căng thẳng và khủng hoảng tại Trung Đông tạo ra một “cú sốc bên ngoài” đối với Việt Nam và có thể ảnh hưởng trực tiếp đến các dự án hạ tầng lớn và triển vọng tăng trưởng. Tôi cho rằng tác động tiêu cực trong ngắn hạn được thể hiện rõ qua việc giá nguyên vật liệu tăng mạnh, đặc biệt là dầu khí. Điều này làm leo thang chi phí xây dựng, bởi vì thép, xi măng và nhựa đường đều tăng giá đáng kể ; riêng nhựa đường tại nhiều nước đã tăng từ 30-50%.
    Chi phí năng lượng tăng cao làm đội chi phí tổng thể của các dự án, đồng thời gia tăng nguy cơ chậm tiến độ hoặc vượt ngân sách. Những yếu tố này có thể ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính và khả năng sinh lời của các công trình hạ tầng quy mô lớn. Đặc biệt, các dự án có vốn đầu tư lớn như đường sắt cao tốc, sân bay hay nhà máy điện hạt nhân có thể trở nên đắt đỏ hơn nhiều so với dự kiến ban đầu do khủng hoảng Trung Đông, nhất là nếu còn kéo dài trong nhiều tháng.
    Đọc thêmChiến tranh Trung Đông tác động đến hấp lực xuất khẩu và tăng trưởng của Việt Nam
    Khủng hoảng tại Trung Đông là trở ngại đáng kể đối với tăng trưởng kinh tế Việt Nam. Giá năng lượng tăng gây ra lạm phát nhập khẩu, làm suy giảm sức mua của hộ gia đình và thu hẹp biên lợi nhuận của doanh nghiệp. Khi chi phí năng lượng tăng, doanh nghiệp phải gánh chi phí cao hơn, từ đó hạn chế khả năng đầu tư và mở rộng sản xuất. Vì vậy, mục tiêu đạt mức tăng trưởng 10% mỗi năm của Việt Nam có nguy cơ trở nên khó khăn hơn trong giai đoạn 2026-2027, thậm chí là 2028 nếu khủng hoảng Trung Đông còn kéo dài.
    Tuy nhiên, không phải mọi tác động đều tiêu cực. Trong trường hợp của Việt Nam, khủng hoảng còn có thể trở thành động lực thúc đẩy quá trình chuyển đổi năng lượng. Chúng ta có thể thấy rõ rằng Việt Nam hiện rất nhạy cảm với những cú sốc năng lượng từ bên ngoài. Điều này có thể thúc đẩy chính phủ đẩy nhanh chiến lược đa dạng hóa nguồn cung, bao gồm phát triển điện hạt nhân và mở rộng năng lượng tái tạo. Về dài hạn, những bước đi này sẽ giúp Việt Nam giảm phụ thuộc vào dầu khí, đặc biệt là nhập khẩu dầu mỏ.
    Khủng hoảng Trung Đông không hoàn toàn tiêu cực, tôi cho rằng Việt Nam hiểu rõ điều này. Tuy vậy, biến động năng lượng vẫn có thể cản trở mục tiêu tăng trưởng bình quân 10% được đề ra trong giai đoạn 2026-2030.
    RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn giám đốc nghiên cứu Éric Mottet, Trung Tâm Nghiên cứu về Ấn Độ - Thái Bình Dương (CREIP), Đại học Laval, Québec, Canada.
    (1) Dan Martin, Văn phòng tư vấn Dezan Shira & Associates, được AFP trích dẫn ngày 08/04/2026
About Tạp chí Việt Nam
Những vấn đề, sự kiện đang được dư luận quan tâm ở Việt Nam
Podcast website